Đơn nhạn thất quần hốt mạn phi, Tịch vân mạc mạc đạm phong tùy. Vọng sơn tưởng quốc bát thuyền đáp, Tá tửu tiêu sầu túy thặng chi!
Phỏng Dịch: Cạn men Say!
Thương thay cánh nhạn lạc bầy, Mây chiều giăng lối khói bay mịt mờ. Nhìn đồi nhớ nước lòng mơ, Nâng ly giải muộn sang bờ còn say!
Đông Thiên Triết
Diễn Ý Bài Thơ: Thương thay! khi nhìn thấy cánh nhạn đang lạc bầy, hớt hơ hớt hải trên tầng mây xám hồng, bồng bềnh, lưng trời vô định vào một buổi chiều tàn. Kế đó, trông thấy xa xa những rặng núi lam chiều khiến trong lòng mơ ước có con thuyền để đáp về quê hương yêu dấu thăm lại cố hương. Những ước mơ viễn vong đó, dễ gì được toại nguyện, thôi thì tạm mượn chén rượu để giải sầu, ôi! đến khi cạn chén và cứ thế mà tưởng chừng như sự thật, nghe chừng như con thuyền sắp cập bến và men rượu còn túy lúy nồng độ.
Tân niên khai bút tự canh đầu,
Tửu túy lưu liên mã thượng câu.
Phách dĩ trương cung, thi hóa ngọc,
Hồn tài bạt kiếm, phú thành châu.
Kỳ lân cổ vũ, mai trường phát,
Tiên pháo ca ngâm, khúc hảo cầu.
Mộng lý trung, giai nhân tuyệt sắc,
Hòa dư chỉnh dạ tấu thâm lầu.
Phỏng Dịch : Khai Bút Đầu Năm Mậu Tuất
Tết nầy khai bút tự canh đầu,
Mà đã say mèm cưỡi vó câu.
Phách mới giương cung, thi nhả ngọc,
Hồn vừa tuốt kiếm, phú phun châu.
Lân theo trống thúc, hoa mai trổ,
Pháo nổ thơ ngâm, tiếng nhạc chầu.
Trong giấc hòe, giai nhân tuyệt sắc,
Cùng ta múa hát suốt đêm thâu.
Mông lung vô thụy mãn canh trường, Nhãn lụy u hoài vọng cố hương. Sảo sảo môn dao phong vũ lãnh, Du du nguyệt ánh mẫu đơn hương. Vụ dung sương kết diệp lăng giác, Cẩu phệ thanh hoa miếu lý đường. Xúc cảnh thi đề nhi tưởng khí, Đãnưu quân duyệt sử bi thương.
Đông Thiên Triết. Mar 19/2012
(Phỏng Dịch) Đêm Dài Thao Thức
Chập chờn thao thức suốt canh trường,
Mỏi mắt u hoài vọng cố hương.
Cánh cửa đong đưa, cơn gió lạnh
Vầng trăng lấp ló, mẫu đơn hường.
Hột sương móc lệ quanh viền lá,
Con chó tru đêm trước miếu đường.
Cám cảnh đề thơ, nhưng định vứt,
Ngại người chẳng đọc chuyện bi thương
Đằng Vương Các nằm ở phía tây bắc Nam Xương, bờ đông sông Cám Giang. Được Lý Nguyên Anh (con trai của Đường Cao Tổ Lý Uyên, em của Đường Thái Tông Lý Thế Dân) cho xây dựng vào năm Vĩnh Huy thứ 4 (năm 653) thời nhà Đường. Năm 652 Lý Nguyên Anh được điều đến Tô Châu để nhậm chức Thứ Sử, ông sai Đô Đốc Hồng Châu xây dựng cái Các này để làm chỗ ở. Do Lý Nguyên Anh được phong là “Đằng Vương”, cho nên cái Các này được gọi là Đằng Vương Các 滕王閣, Các này tọa lạc ở bên sông Tầm Dương. Khoảng 20 năm sau, đô đốc Hồng Châu là Diêm Bá Dư, thường được gọi là Diêm Công, cho trùng tu Các. Sau khi hoàn thành công việc, ông cho mời các văn, thi sĩ đến sáng tác thơ văn để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ, Vương Bột 王勃 là một thanh niên tài hoa hơn người, nhân lúc đi thăm cha làm Thứ Sử ở đất Giao Châu, khi thuyền đến bến Mã Dương, nghe tin Diêm Đô Đốc mở tiệc lớn mời văn nhân, thi sĩ khắp nơi, Bột muốn đến dự. Đáng lý thuyền phải đi thêm ba ngày nữa mới đến được Đằng Vương Các, nhưng may nhờ hôm ấy có gió thuận, nên Vương Bột đã đến nơi chỉ trong một đêm, do đó cũng kịp lúc được vào dự yến tiệc. Thật ra, lúc ấy Diêm Dô Đốc muốn khoe khoang tài văn chương lỗi lạc của người nhà. Nhưng không ngờ gặp phải một tân khách trẻ tuổi nhất, (lúc bấy giờ chỉ mới 15 tuổi) lại làm dược bài thơ hay nhất, có câu sau đây được mọi người thán phục thiên tài: ( Lạc Hà Dử Cô Vụ Tề Phi; Thu Thủy Cộng Trường Thiên Nhất Sắc) “落霞與孤鶩齊飛, 秋水共長天一色”, có nghĩa là: Ráng chiều cùng cò trắng đều bay, Màu nước với da trời cùng một sắc. Từ đó, danh của Vương Bột nổi như cồn, cho nên có câu thơ tán dương như sau: “Thời Lai Phong Tống Đằng Vương Các 時來風送滕王閣. Nghĩa là : thời vận đã tới nên mới có gió đưa (chàng) đến gác Đằng Vương Các cho kịp lúc.
Tài Liệu tham khảo: Wikipedia. Thành Ngữ Điển Tích, Danh Nhân Từ Diển
Bạn phải đăng nhập để bình luận.