Trang Thơ Hán Việt

黃鶴樓 Hoàng Hạc Lâu

HoangHacLauTH

“Tài liệu tham khảo: Đường Thi Tam Bách Thủ (Ba trăm bài thơ đời Đường) nguyên bản Hán văn, do Tân Hoa Thư Cục Đài Loan ấn loát và phát hành”.
 Trong quyển Đường Thi Tam Bách Thủ (ba trăm bài thơ “chọn lọc” thời thịnh Đường) thấy ghi lại như sau: Hoàng Hạc Lầu là một bài thơ tuyệt tác của đại thi hào Thôi Hiệu (có người gọi là Thôi Hạc). Bài thơ này, vì vào thời buổi đó, chưa có thơ Đường Luật, nên làm theo lối cổ phong và do chính thi hào sáng tác và đã để lại trên vách tường của căn gác hoang, đó là lầu Hoàng Hạc. Nguyên lầu này tọa lạc tại hướng Tây Bắc, thành Vũ Xương, ngày nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Hoa. Do đó người ta gọi là Hoàng Hạc Lầu.
Tương truyền rằng: Xưa kia có một vị tiên ông, tên là Phí Văn Vi, sau khi tu đắc đạo thành Tiên, Ngài thường cỡi con hạc màu vàng, rồi bay đến căn lầu hoang vắng này để nghỉ ngơi, cùng lúc ấy, Phí tiên ông cũng thường ngâm vịnh, hay cầm kỳ thi họa cùng các vị tao nhân mặc khách thường lai vãng đến lầu này.
Truyen-thuyet-ve-Hoang-Hac-Lau_Tin180.com_001
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không du Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
     Những cuộc tao phùng nào mà không có buổi chia ly ?, Phí tiên ông cũng không ngoại lệ, thế cho nên trong các buổi cầm kỳ thi họa cùng các vị tao nhân kia được ít lâu, thì bỗng một hôm, Phí Văn Vi đột nhiên cỡi con hạc vàng bay đến một phương trời xa thẳm y như những lần trước, nhưng chuyến cỡi hạc ra đi lần cuối cùng này, Phí tiên ông không bao giờ trở lại phàm trần nữa để tiếp tục đối ẩm, cầm kỳ thi họa cùng các tao nhân mặc khách của Ngài. Nhưng Phí Vi tiên ông nào có ngờ đâu, sự ra đi vĩnh viễn của Ngài, đã để lại đằng sau lưng mình, còn có các vị mặc khách tao nhân kia, mà ở nơi họ, là cả một sự mỏi mòn vì mãi mê chờ đợi bạn tri âm trong tuyệt vọng. Mãi cho đến một ngày kia, tất cả các vị tao nhân này cũng đều phải ra đi vĩnh viễn trong cát bụi, trong hư vô, theo định luật: Thành Thịnh, Suy, Hủy của càn khôn vũ trụ. (Tục truyền rằng Ngài Phí Văn Vi đã cỡi hạc về cảnh tiên giới để tiếp tục đường tu hành), Vì vậy người ta gọi căn lầu hoang vắng kia là Hoàng Hạc Lầu. (Di tích lịch sử này, hiện vẫn còn tọa lạc tại tỉnh Hồ Bắc TH).
     Thời gian sau, nhân một chuyến du ngoạn, lúc thi hào Thôi Hiệu đi ngang qua căn lầu hoang vắng này, tiện ghé vào lầu để nghỉ ngơi, thì được nghe kể lại sự tích trên, rồi Ngài dõi mắt nhìn quang cảnh lầu hoang bụi bám, tơ nhện giăng đầy khắp nơi, nhưng người xưa thì nay đà khuất bóng, chỉ còn trơ lại thực tại ngôi lầu hoang vắng, cũ kỹ, nằm trên một triền đồi hẻo lánh, trong khung cảnh âm u của núi rừng sâu thẩm. Nhưng đối với hồn thơ đa sầu, những dạt dào cảm ái của thi hào Thôi Hiệu, thì đó chính là tụ điểm của một bức tranh xuân sơn thủy lục, được tô điểm qua sắc thái dưới bóng một buổi chiều tà, có ánh ngà hoàng hôn vừa buông sụp, mà ngay khi ấy, tức thì bức màn đêm cũng chừng như sắp sửa buông phủ, để sẵn sàng đè lên những sợi nắng hồng nhạt của buổi hoàng hôn trong cô tịch.
     Nếu trông về quang cảnh trước mắt từ phía đằng xa, thì thấy hiển hiện lên những dợn khói sóng trên mặt sông Trường Giang, đang mập mờ tung tóe, bay nhảy trên mặt nước, như đang đùa giởn với bức màn sương dầy đặc, chẳng khác nào như tự nó cố tình muốn che khuất lối đi nẻo về của người lữ khách đường xa, thì thử hỏi, mấy ai mà tránh khỏi cái cảm giác xa quê hương, để rồi ôm trong lòng nỗi xót xa dùm cho người lữ khách đó ?, nhất là đối với tâm hồn thi nhân, thì tránh sao khỏi cảm xúc bởi nỗi niềm riêng lai láng trổi dậy trong hồn thơ của họ.
birds_in_flight_04[1]
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du .
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu !
     Cảnh trí xuân sơn thủy tú này, được lồng trong sáu câu thơ trên đây, đã tô điểm thành một bức tranh sống động mà khiến cho người sáng tác tranh thơ này, khi ngâm nga lên, cũng phải liên tưởng đến hình ảnh cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, đang ở quê nhà mà hiện giờ này, họ đang trông đợi mình chăng?. Cho nên nó đã trở thành động lực thúc giục Ngài, làm nôn nóng sự nẩy sanh định ý trở về quê hương ngay trong đêm hôm ấy. Nhưng nếu với hoàn cảnh này, hành trình về quê là đoạn đường xa thăm thẳm, bởi phải trải qua các cửa thành Hán Dương, rồi lại phải băng qua bãi Anh Vũ châu, thì mới đặt chân đến chốn ấy được. Nhưng hiện giờ, đường xá quan san diệu vợi, hơn nữa, sương mù, sông núi và mây ngàn còn đang áng ngữ, đó chính là những chướng ngại vật trước mắt, cản bước cuộc hành trình, thì biết đến bao giờ Ngài mới phản hồi cố quốc được ?
     Cảm xúc bởi quê hương, quyến thuộc, tình thân, đang len lén xâm nhập vào hồn thơ, nên khiến ngọn bút thần của Ngài tức cảnh mà thi thố thần oai, như phụng múa rồng bay, bằng tám câu thơ trên vách tường, duy chỉ vỏn vẹn 8 Câu Thần, mà đã phát họa nên một bức gấm dệt, hoa thêu, với những nét đặc sắc của một bức tranh trước lầu Hoàng Hạc, cùng đệm lên những khúc điệu lồng trong tâm sự của chính Ngài. Với bút pháp tuyệt kỹ, tạc thành những dòng thơ tuyệt tác, làm thương cảm người đọc, làm xúc động triệu triệu con tim từ thuở ấy cho đến hôm nay. Và kể từ dạo đó về sau, bài thơ mới bắt đầu được ghi chép lại và truyền tụng khắp dân gian, đó là bài Hoàng Hạc Lâu như vừa đang kể .
     Về tiểu sử của thi hào Thôi Hiệu, ông sanh vào năm nào thì không ai biết, nhưng chỉ biết ông mất vào năm 754, (Ông mất trước thi hào Lý Bạch 8 năm) ông người huyện Biện Châu, nay là tỉnh Hà Nam, Huyện Khai Phong (T.H). Ông đỗ Tiến Sĩ vào năm Khai Ngyên thứ 11, và làm quan đến chức Thượng Thư Tư Huân Viên Ngoại Lang. Thuở nhỏ bản chất thông minh, bắt đầu làm thơ từ tuổi thiếu thời, văn thơ lỗi lạc, nên được người đời gọi ông là: “Niên Thiếu Vi Thư, Danh Thao Khinh Bạt” (Tuổi trẻ giỏi văn thơ, tiếng tâm thật lẫy lừng).
     Một thời gian sau, khi thi hào Lý Thái Bạch, nhân một hôm đi du ngoạn, cũng có ghé thăm viếng lầu Hoàng Hạc, và Ngài cũng có đọc qua bài thơ của thi hào Thôi Hiệu, với những bút tích vẫn còn y nguyên trên vách tường lầu, khi đọc xong bài thơ, Lý Trích Tiên không tiếc lời khen ngợi thiên tài của thi hào Thôi Hiệu, cho nên Ngài liền thốt ra câu :
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.
眼 前 有 景 道 不 得,
蓷 顥 題 詩 在 上 頭。
     (nghĩa là trước mắt có cảnh, mà ta không thốt nên lời thơ đặng, vì đã có bài thơ của Thôi Hiệu ở trên vách lầu này rồi). Đó chẳng qua là Lý Trích Tiên tỏ ý nhúng nhường chăng? hay để tỏ lòng kính ngưỡng thiên tài thi phú của thi hào Thôi Hiệu?, vì thế mà Ngài Trích Tiên không dùng thần bút của mình để phát họa bức tranh thơ tại lầu này, Ngài bèn đến một nơi khác, nơi đó cũng có một ngôi lầu, quang cảnh cũng tương tự như Phụng Hoàng lầu nơi đây, đoạn Ngài làm ra một bài thơ khác, bài thơ ấy được gọi là: Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài .
     Có sách ghi lại rằng, Lý Trích Tiên đã dựa trong ý thơ của bài Hoàng Hạc Lầu mà làm thành bài: Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài, (vì bài thơ của Ngài, có những ý thơ tương tợ lầu Hoàng Hạc)
     Dưới đây là nguyên bản của 2 bài thơ Hoàng Hạc Lâu và Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài của thi hào Thôi Hiệu và Lý Thái Bạch, qua sự chuyển ngữ của Đông Thiên Triết.
Nguyên tác bài Hoàng Hạc Lâu của thi hào Thôi Hiệu:
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không du Hoàng Hạc Lâu .
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du .
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu .
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!
黃鶴樓
昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。
崔顥
Chuyển ngữ theo thể Đường Luật của Đông Thiên Triết:

Người xưa đã cưỡi hạc về đâu?
Hoàng Hạc Lâu, nay vắng bạn bầu
Một rẽ hạc vàng biền biệt bóng,
Ngàn treo mây trắng lửng lơ lầu .
Dòng sông tạnh dặc dầy Dương thụ,
Thảm cỏ xanh man mác Vũ châu.
Đâu ngõ quê hương chiều sụp tối?
Trường Giang khói sóng khiến ta sầu!
Nguyên tác bài Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài của thi hào Lý Thái Bạch:
Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du,
Phụng khứ, đài không, giang tự lưu.
Ngô cung hoa thảo mãi u kính,
Tấn đại y quan thành cổ khưu.
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại,
Nhị thủy trung phân bạch vũ châu.
Tổng vị phù vân năng tỵ nhật,
Trường An bất kiến sử nhân sầu.
登金陵鳳凰台
鳳凰台上鳳凰游,
鳳去台空江自流。
吳宮花草埋幽徑,
晉代衣冠成古邱。
三山半落青天外,
二水中分白鷺洲。
總為浮雲能蔽日,
長安不見使人愁。
李白
Chuyển ngữ theo thể Đường Luật
của Đông Thiên Triết:
Phụng hoàng chắp cánh đã bay đâu?
Phụng vắng lầu hoang, sông chảy sầu
Hoa cỏ rường Ngô vùi nẻo thẳm,
Mão y nếp Tấn lấp đường sâu.
Trời xanh ba núi in trong bóng,
Nước bạc hai ngòi rẽ giữa châu .
Mây phủ giăng tầng che bóng ác,
Trường An mờ khuất, dạ thêm rầu
          Ngày nay, những đứa con của Mẹ Việt Nam đang lưu lạc khắp nơi trên thế giới, thử hỏi có mấy ai mà chẳng thương nhớ đến quê cha đất tổ của mình? vậy tại sao chúng ta không thông cảm mà cùng nhau chia sẻ nỗi sầu trên đây với thi hào Thôi Hiệu? Hay chúng ta thử có ý định đem so sánh cái tâm trạng hôm nay của chính mình, cùng với nỗi sầu trên lầu Hoàng Hạc của thi hào Thôi Hiệu thuở xa xưa xem sao? Vậy thì nỗi sầu vong quốc của chúng ta hiện nay, chắc hẳn gấp vạn lần so với nỗi sầu của thi hào Thôi Hiệu, đã được Ngài gánh đổ mối sầu ấy, tạc nên những vần thơ trên vách lầu Hoàng Hạc này mãi mãi đến ngàn thu.
     Tuy nhiên, nỗi sầu của thi hào Thôi Hiệu, không trỉu nặng hơn nỗi sầu vong quốc của chính chúng ta, nhưng thiết nghĩ, vì chúng ta là thân phận hậu bối, âu cũng nên chia sớt nỗi sầu xa xưa của người thiên cỗ đôi chút? Do đó mà sau khi đọc qua bài Hoàng Hạc Lâu này, trong tâm tư của chính tôi, tự nó đã hiển hiện ra cái khung cảnh xuân sơn thủy lục, được hình dung trong một giây phút xuất phát từ ảo giác của tâm hồn mình, và nghe như đâu đây, văng vẳng có những tao nhân mặc khách tự thuở nào, và nghe như họ đang cầm kỳ bên hồ sen chén ngọc hay họ đang ngâm nga thi họa bên gác tía lầu vàng, khiến cho tâm hồn tôi tưởng chừng như chính mình đang được hưởng cái vinh hạnh này, là đang được diện kiến các vị tao nhân, trong những phút giây tức cảnh nên thơ, khi tôi đang đọc qua bài Hoàng Hạc Lâu của thi hào Thôi Hiệu.
     Ôi! cái mường tượng này, nó đã cấu tạo thành một bức tranh Hoàng Hạc trong ảo giác của tôi, và như tự nó đã họa lên trên mảnh lụa vàng, thành một bức tranh có muôn hoa khoe sắc, để trang hoàng, để tô điểm cho ngôi lầu hoang vắng kia trở nên rực rỡ hơn trong tiềm thức của 3 bài liên hoàn dưới đây: để Kỉnh Vấn Thi Hào Thôi Hiệu, theo thể Đường luật, cốt để gánh tiếp cái nỗi sầu ly hương xa xứ của Ngài, mà trong tâm trạng của chính tôi, cũng là tâm trạng chung của mỗi người đang mang nặng nỗi sầu ly hương vì vong quốc.
KỈNH VẤN THI HÀO THÔI HIỆU (khi đọc qua bài Hoàng Hạc Lâu)
Tôi cũng như ông xa xứ nhà,
Tâm hương kỉnh lễ hỏi Thôi gia:
Đi đâu ghé lại lầu Hoàng Hạc?
Đứng đó ngắm nhìn bóng Nguyệt Nga?
Hứng gió trông quê, con mắt mỏi,
Đề thơ nhớ bạn, cánh diều xa.
Mấy người chia sớt sầu ông nhỉ?
Hay chỉ mình ông tự gánh à?
Tự gánh sầu ông đến tháp ngà,
Chẳng may Tiên Hạc đã bay xa.
Phí Vi vui đạo không quày lại,
Mặc khách sầu đời chẳng ghé qua.
Những sớm cầm kỳ bên chén ngọc
Thường đêm thi họa trước thềm hoa
Với tiên, với khách, tao nhân ấy,
Vung ngọn bút thần vẩy nét sa.
Thần bút Thôi ông vẩy nét ngà,
Câu câu tuyệt diệu chẳng phai pha.
Xưa đề thơ: Một Sầu Thôi Hiệu,
Nay đọc lời: Ngàn Thảm Dạ Ta.
Thuở ấy Ngài than xa xứ sở?
Bây giờ Tôi khóc mất quê nhà!
Đợi ngày quang phục, lòng như đốt,
Mượn mấy dòng thơ để gọi là ….
Đông Thiên Triết
Canh Thìn niên 2000
Trang Thơ Hán Việt

春 思 Xuân Tư

春   思
六 拾 年 過 否 泰 去
春 風 吹 到 蠶 紛 緒
思 鄕 除 夕 看 梅 開
揮 劍 斬 愁 頭 白 慮
東 天 哲
(Chuyển Ngữ)
Xuân Tư

Lục Thập niên qua Bĩ Thái khứ,
Xuân phong xuy đáo tàm phân tự.
Tư hương trừ tịch khán mai khai,
Huy kiếm trảm sầu, đầu bạch lự.

(Giảng Nôm):

Sáu mươi tuổi đời vinh nhục trải qua,
Lại đón thêm mùa Xuân sang, lòng như tơ tằm rối.
Nhìn hoa Mai nở trong đêm Giao Thừa mà nhớ Nước,
Tuốt kiếm chặt cơn sầu, nhưng mái đầu điểm bạc vì lo âu.

(Diễn dịch Nôm) :
Xuân Tư

Vinh nhục trong đời Sáu Chục năm,
Xuân về ươm kén rối tơ tằm.
Giao Thừa nhớ Nước nhìn mai nở,
Vung kiếm trảm sầu, tóc bạc râm.

Đông Thiên Triết

Trang Thơ Hán Việt

琵琶行 Tỳ Bà Hành (Bạch Cư Dị)

rd040521001.jpg

潯陽江頭夜送客,楓葉荻花秋瑟瑟。
主人下馬客在船,舉酒欲飲無管弦。
醉不成歡慘將別,別時茫茫江浸月。
忽聞水上琵琶聲,主人忘歸客不發。
尋聲暗問彈者誰,琵琶聲停欲語遲。
移船相近邀相見,添酒回燈重開宴。
千呼萬喚始出來,猶抱琵琶半遮面。
轉軸撥弦三兩聲,未成曲調先有情。
弦弦掩抑聲聲思,似訴平生不得志。
低眉信手續續彈,說盡心中無限事。
輕攏慢□抹復挑,初為《霓裳》后

《六么》。
大弦嘈嘈如急雨,小弦切切如私語。
嘈嘈切切錯雜彈,大珠小珠落玉盤。
間關鶯語花底滑,幽咽泉流冰下難。
冰泉冷澀弦凝絕,凝絕不通聲漸歇。
別有幽愁暗恨生,此時無聲勝有聲。
銀瓶乍破水漿迸,鐵騎突出刀槍鳴。
曲終收撥當心畫,四弦一聲如裂帛。
東船西舫悄無言,唯見江心秋月白。
沉吟放撥插弦中,整頓衣裳起斂容。
自言本是京城女,家在蝦蟆陵下住。
十三學得琵琶成,名屬教坊第一部。
曲罷曾教善才伏,妝成每被秋娘妒。
五陵年少爭纏頭,一曲紅綃不知數。
鈿頭云篦擊節碎,血色羅裙翻酒污。
今年歡笑復明年,秋月春風等閑度。
弟走從軍阿姨死,暮去朝來顏色故。
門前冷落車馬稀,老大嫁作商人婦。
商人重利輕別離,前月浮梁買茶去。
去來江口守空船,繞船月明江水寒。
夜深忽夢少年事,夢啼妝淚紅闌干。
我聞琵琶已嘆息,又聞此語重唧唧。
同是天涯淪落人,相逢何必曾相識!
我從去年辭帝京,謫居臥病潯陽城。
潯陽地僻無音樂,終歲不聞絲竹聲。
住近湓江地低濕,黃蘆苦竹繞宅生。
其間旦暮聞何物,杜鵑啼血猿哀鳴。
春江花朝秋月夜,往往取酒還獨傾。
豈無山歌與村笛,嘔啞嘲哳難為聽。
今夜聞君琵琶語,如聽仙樂耳暫明。
莫辭更坐彈一曲,為君翻作琵琶行。
感我此言良久立,卻坐促弦弦轉急。
淒淒不似向前聲,滿座重聞皆掩泣。
座中泣下誰最多?江州司馬青衫濕。 

Chuyển Ngữ :

Tỳ Bà Hành (Bạch Cư Dị)
Gảy Đàn Tỳ

Tầm Dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa thu sắt sắt
Chủ nhơn hạ mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền

Túy bất thành hoan thảm tương biệt
Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
Chủ nhơn vong quy khách bất phát

Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy
Tỳ bà thanh đình dục ngữ trì
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến

Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai
Do bão tỳ bà bán già diện
Chuyển trục bát huyền tam lưỡng thanh
Vị thành khúc điệu tiên hữu tình

Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ
Tự tố bình sanh bất đắc chí
Ðê my tín thủ tục tục đàn
Thuyết tận tâm trung vô hạn sự

Khinh long mạn nhiên mạt phục khiêu
Sơ vi Nghê thường hậu Lục yêu
Ðại huyền tào tào như cấp vũ
Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ

Tào tào thiết thiết thác tạp đàn
Ðại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
Gian quan oanh ngữ hoa để hoạt
U yết tuyền lưu thủy hạ than

Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
Ngưng tuyệt bất thông thanh tiệm yết
Biệt hữu u sầu ám hận sanh
Thử thời vô thanh thắng hữu thanh

Ngân bình sạ phá thủy tương bính
Thiết kỵ đột xuất đao thương minh
Khúc chung thu bát đương tâm hoạch
Tứ huyền nhứt thanh như liệt bạch

Ðông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung

Tự ngôn bổn thị kinh thành nữ
Gia tại Hà mô lăng hạ trú
Thập tam học đắc tỳ bà thành
Danh thuộc giáo phường đệ nhứt bộ

Khúc bãi tằng giáo thiện tài phục
Trang thành mỗi bị Thu Nương đố
Ngũ lăng niên thiếu tranh triền đầu
Nhứt khúc hồng tiêu bất tri số

Ðiền đầu ngân bề kích tiết toái
Huyết sắc la quần phiên tửu ô
Kim niên hoan tiếu phục minh niên
Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ

Ðệ tẩu tùng quân a di tử
Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố
Môn tiền lãnh lạc xa mã hy
Lão đại giá tác thương nhơn phụ

Thương nhơn trọng lợi khinh biệt ly
Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền
Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn

Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
Mộng đề trang lệ hồng lan can
Ngã văn tỳ bà dĩ thán tức
Hựu văn thử ngữ trùng tức tức

Ðồng thị thiên nhai luân lạc nhơn
Tương phùng hà tất tằng tương thức
Ngã tùng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngoạ bịnh Tầm Dương thành

Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc
Chung tuế bất văn ty trúc thanh
Trú cận Bồn giang địa đê thấp
Huỳnh lô khổ trúc nhiễu trạch sanh

Kỳ gian đán mộ văn hà vật
Ðỗ quyên đề huyết viên ai minh
Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ
Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh

Khỉ vô sơn ca dữ thôn địch
Ẩu nha triều triết nan vi thính
Kim dạ văn quân tỳ bà ngữ
Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh

Mạc từ cánh toạ đàn nhứt khúc
Vi quân phiên tác tỳ bà hành
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
Khước toạ xúc huyền huyền chuyển cấp

Thê thê bất tự hướng tiền thanh
Mãn toạ trùng văn giai yểm khấp
Toà trung khấp hạ thùy tối đa
Giang châu Tư Mã thanh sam thấp

Bạch Cư Dị

Dịch Nôm
Bản dịch thơ của Phan Huy Vịnh:

Tỳ Bà Hành

Bến Tầm Dương, canh khuya đưa khách.
Quạnh hơi thu, lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo,
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty.

Say những luống ngại khi hầu rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Tiếng tỳ chợt vẳng trên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.

Lần tiếng sẻ, hỏi ai đàn tá ?
Lửng tiếng đàn, nấn ná làm thinh.
Dời thuyền theo hỏi thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.

Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn vài tiếng dạo qua,
Tuy chưa trọn khúc, tình đà thoảng hay.

Nghe não nuột mấy dây bứt rứt,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu.
Chau mày, tay gảy khúc sầu,
Giãi bày mọi nỗi trước sau muôn vàn.

Ngón buông, bắt, khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê thường, sau thoắt Lục yêu.
Dây to nhường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng.

Tiếng cao thấp lần chen liền gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa, oanh ríu rít nhau,
Suối tuông róc rách chảy mau xuống ghềnh.

Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng tắt,
Ngừng tắt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu, đau giận ngẩn-ngơ,
Tiếng tơ lặng lẽ bấy giờ càng hay.

Bình bạc vỡ tuôn đầy mạch nước,
Ngựa sắt giong, thét ngược tiếng đao.
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.

Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông.
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời.

Rằng xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà mô trú ở lân la.
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất sổ đà chép tên.

Gã thiện tài sợ phen dừng khúc,
Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô.
Ngũ lăng, chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the tấm chuốc mua tiếng đàn.

Vành lược bạc gãy tay nhịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi.
Năm năm lần lữa vui cười,
Mãi gió trăng chẳng đoái hoài xuân thu.

Buồn em trẩy, lại sầu dì thác,
Lần hôm mai đổi khác hình dung.
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết đôi cùng khách thương.

Khách trọng lợi khinh thường ly cách,
Mãi buôn chè, sớm tếch miền khơi.
Thuyền không đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.

Ðêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son.
Nghe đàn ta đã chạnh buồn.
Lại rầu nghe nỗi nĩ non mấy lời,

Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích, gối sầu hôm mai.

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm.
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ nảy mầm quanh hiên.

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối,
Cuốc kêu sầu, vượn hót nỉ non.
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son riêng ngừng.

Há chẳng có ca rừng địch nội,
Giọng líu lo, nhiều nỗi khó nghe.
Tiếng tỳ nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.

Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca.
Tần ngần dường cảm lời ta,
Đến ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây.

Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi.
Lệ ai chan chứa hơn người ?
Giang châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.

Phan Huy Vịnh dịch

————————————————————-

Phân tích bài thơ Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị qua bản dịch của Phan Huy Thực

Thứ ba , 10/03/2015

Tiếng đàn như sầu thương, như giận dữ, làm mê say, đắm đuối lòng người. Bốn ẩn dụ cuối, là biến thái của giai điệu tì bà như nước tuôn trào ra khỏi bình bạc vỡ, rầm rập như đoàn quân thiết kị xung trận, như tiếng đao khua trên chiến địa, như tiếng xé lụa vang lên… Hình ảnh nào cũng thần tình, câu thơ nào cũng đẹp, cũng “thanh tao”.

     1.Cuộc tiễn đưa…

Một đêm khuya trên bến Tầm Dương, trong hơi thu quạnh quẽ, gió thổi đìu hiu, bờ lau xào xạc đã diễn ra một cuộc tiễn đưa “ngườixuốngngựa, khách dừng chèo…”.Chén quỳnh đưa tiễn nhiều lưu luyến. Một khung cảnh đầy chất thơ: dòng sông, con thuyền, vầng trăng, đôi bạn thơ. Không gian, thiên nhiên, cỏ cây, gió thu, hơi thu như thấm một nỗi buồn man mác. Hồn Đường thấm vào, quyện vào những vần thơ thất ngôn và thơ song thất lục bát, réo rắt du dương trầm bổng, đọc lên một lần đâu dễ quên ?

“Bến Tầm Dương canh khuya dưa khách,
Quạnh hơi thu, lau lách dìu hiu,
Người xuống ngựa, khách dừngchèo,
Chén Quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti”.

      Khách và chủ đang bâng khuâng “ngạikhi chia rẽ” lòng khao khát được nghe một tiếng sáo, tiếng đàn “nhớ chiều trúc, ti” thì bỗng đâu, lúc đó tiếng tì bà vẳng lại. Dòng sông như mênh mông hơn. Vầng trăng thu như trong và sáng hơn.Một hình ảnh nên thơ: “Nước mênh môngđượm vẻ gươngtrong”. Trước đây, Tản Đà thích thú và khen câu thơ này là “tuyệt cú Tiếng đàn tì bà mới huyền diệu làm sao, đã làm cho “chủ khuây khỏa lại, khách dừngdằng”.Như níu giữ và mênh mang mênh mang… Cuộc tiễn đưa giữa đôi bạn tri âm lại là sự mở đầu cho cuộc gặp gỡ vô cùng cảm động giữa một giai nhân và một tài tử.

  1. Gặp kĩ nữ và nghe nàng đánh đàn,
  2. Giây phút đầu bỡ ngỡ.

Giữa đất trời sông nước trăng thu ấy, không hẹn mà nên, cuộc gặp gỡ giữa thi nhân và kĩ nữ qua khúc đàn tì bà đã diễn ra vô cùng cảm động. Thi nhân “dời thuyền ghé lại thăm tình ” cất tiếng hỏi: “sẽ ai đàn tá? ”, kĩ nữ “dừng dây tơ nấn ná làm thinh”.Câu thơ trữ tình mang tính kịch đầy xúc động! Thi nhân ân cần “mời mọc mãi”, người đẹp tần ngần, chín mười phần bỡ ngỡ. Sự xuất hiện của mĩ nhân được tả ít gợi nhiều:

Tay ôm đàn che nửa mặt hoa,
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dầu chưa nên khúc tình đà thoáng hay”.
Nhiều bẽn lẽn. Tiếng đàn tì bà đã “thay mặt thay lời ” giao duyên.

  1. Khúc dạo đùn

Mỹ nữ xuất hiện trong phút đầu gặp gỡ chưa ai rõ thân phận nàng như thế nào, nhưng qua dáng điệu và cử chí bỡ ngỡ, ngượng ngùng, mày chau, tiếng tơ của khúc dạo đàn, ta có thể đoán được một tâm trạng, một cuộc đời không chút bình thường của người kĩ nữ mà nhà thơ gặp gỡ đêm nay. Tiếng dạo đàn giãi bày bao nỗi buồn u uất. Thần thái của tiếng đàn kĩ nữ được cảm nhận một cách tinh tế. Bạn tri âm không hẹn mà gặp. Nhà thơ phải là một tài tử sành điệu cầm, kì, thi, họa mới có cái tai Chung Tử Kì ấy:

“Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu.
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Giãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn”.

Cảm xúc như nén chặt trong đáy sâu tâm hồn của một con người tài sắc bạc mệnh được “giãi bày” qua âm sắc, giai điệu tì bà với bao “buồn bực”, “tấm tức”, “nghe não nuột” như khóc như than. Câu thơ “Mày chau tay gảy khúc sầu” là một nét tâm trạng đầy bi kịch.

  1. Tiến lị đàn kĩ nữ

Thành tựu nổi bật nhất trong tỳbà hành là nghệ thuật miêu tả tiếng đàn. Trong bữa tiệc hoa trên bến Tầm Dương, thính giả của kĩ nữ là một tài tử văn nhân rất sành nhạc, đặc biệt hơn, còn có một cuộc đời, một nỗi niềm cay đắng, trải qua nhiều thăng trầm, trôi nổi giống như kĩ nữ.

Lần thứ nhất, khúc tiền tấu được tả từ xa, mơ hồ trong sương khói Tầm Dương.

Lần thứ hai, tiếng đàn được tả trong mọi cung bậc, giai điệu và cảm xúc, nỗi niềm của hai tâm hồn đa tài, đa cảm.

Ngón tay ca nữ “buông bắt” lướt trên phím đàn, hai khúc nhạc cung đình Nghê Thường, Lục Yêu vang lên. Câu thơ gợi lên trước mắt ta người đang đàn là một nghệ sĩ tài ba hiếm thấy:

“Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu ”

Mười bốn câu tiếp theo, Bạch Cư Dịsử dụng một chuỗi 9 ẩn dụ so sánh để ca ngợi âm sắc giai điệu tiếng đàn Tì bà của kĩ nữ.

Tiếng đàn biến hóa kì ảo, lúc thì ào ào như mưa rào, lúc thì nỉnon thủ thỉ như lời tâm tình:

“Dây to nhường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng”.

Tiếng đàn lúc cao thấp, lúc trầm bổng, trong vắt như hạt châu nảy trên mâm ngọc, như tiếng chim oanh ríu rít trong ngàn hoa:

“Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu.
Trong hoa oanh ríu rít nhau… ”

Tiếng Tì bà đang như “nước tuôn róc rách chảy mau xuốngghềnh ” thì bỗng “ngừng đứt”. Kĩ nữ diễn tấu “dấu lặng” trong bản đàn một cách thần tình. Người dự tiệc và ngồi nghe đàn đều “ngẩn ngơ” trước sự huyền diệu của suối âm thanh qua ngón diễn tấu điêu luyện tài hoa:

“Nước suối mạnh dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ.
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay”.

Tiếng đàn như sầu thương, như giận dữ, làm mê say, đắm đuối lòng người. Bốn ẩn dụ cuối, là biến thái của giai điệu tì bà như nước tuôn trào ra khỏi bình bạc vỡ, rầm rập như đoàn quân thiết kị xung trận, như tiếng đao khua trên chiến địa, như tiếng xé lụa vang lên… Hình ảnh nào cũng thần tình, câu thơ nào cũng đẹp, cũng “thanh tao”. Ngôn ngữ thơ tràn ngập âm thanh:

“Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao;
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây… ”

Trong suối âm thanh tì bà, ngoại cảnh (dòng sông, con thuyền, bầu trời, vầng trăng thu) nhưru hồn trong mộng tưởng, say đắm, bâng khuâng, tất cả đều “lặng ngắt” tận hưởng dư âm tì bà. Khung cảnh hiện lên qua một nét vẽ đầy chất thơ. Sông như thêm mênh mông hơn. Ánh trăng như trong xanh hơn. Con thuyền như đắm chìm trong giấc mộng đêm thu:

“Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
Một vầng trăng trongvắt dòng sông”.

Lấy ngoại cảnh để biểu cảm âm thanh của tiếng tì bà là một thủ pháp nghệ thuật tinh tế, điêu luyện của Bạch Cư Dị. Các nhà thơ Việt Nam đã kế thừa sáng tạo. “Ngọn đèn khi tỏ khi mờ… ” (Truyện Kiều – Nguyễn Du). “Mây hồng ngừng lại sau đèo – Mình cây nắng nhuộm, bóngchiều khôngđi ” (Tiếng sáo Thiên thai – Thế Lữ).

Tóm lại, đọc tỳbà hành qua bản dịch thơ của Phan Huy Vịnh (?) ta vô cùng sảng khoái trước những vần thơ réo rắt, trầm bổng, u hoài… Giữa kĩ nữ và thi nhân không chỉcó mối liên tài mà còn là đôi bạn tri âm. Bao nhiêu âm thanh là bấy nhiêu tấc lòng, bấy nhiêu tình đời cay đắng, u uất.

  1. Lời kĩ nữ:

Qua bản đàn vừa được diễn tấu, kĩ nữ và thi nhân hầu như không còn “khoảng cách ” nữa, hai người trở thành đồng điệu, tri âm. Ngôn ngữ thơ từ miêu tả chuyển thành tự sự. Hai câu tả dáng điệu khép nép, đau buồn của nàng là một nét vẽ phác qua có thần:

“Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời”.

Kĩ nữ nói về cuộc đời nàng. Đã có một thời oanh liệt, vàng son “giáo phường đệ nhất chỉ đàchép tên Tài sắc của nàng từng làm mê đắm bao công tử vương tôn một thời. Chìm đắm trong truy hoan, tuổi xuân vung phí:

“Năm… năm lần nữa vui cười,
Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu”.

      Như đóa hoa sớm nở tối tàn, cuộc đời kĩ nữ phôi pha: sắc đẹp phai tàn, người dì chết, đứa em trai ra lính, tình duyên hẩm hiu “thân già mới kết duyên cùng khách thương”. Kết cục nàng vẫn sống trong cô đơn, trong lạnh lẽo trên con thuyền giữa mênh mông sông nước:

“Thuyền không đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng”.

Hình ảnh con thuyền, vầng trăng, dòng nước trong câu thơ mang ý nghĩa tượng trưng cho thân phận một kiếp phù hoa cô đơn của các kĩ nữ trong cuộc đời. Lời thơ buồn não nuột.

Sau lời tâm sự là suối lệ tuôn trào, nuối tiếc một thời xuân sắc rực rỡ. Lần thứ hai, thi sĩ làm rõ thêm tâm cảnh kĩ nữ:

“Đêm khuya sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen ”…

Cóthể nói lời tâm sự của kĩ nữ cùng với tiếng đàn tì bà của nàng là hai nốt trầm, bổng của hợp âm trong hãn đàn “bạc mệnh ” của một giai nhân.

  1. “Ai tri âm đó ”

Bạch Cư Dị đã dùng 20 câu thơ nói lên tâm sự của mình. Nghe đàn, rồi nghe kỹ nữ giãi bày tâm sự, thi nhân lòng nặng trĩu buồn thương:

“Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời ”

Nhà thơ thương người rồi xót xa thân phận mình bị trôi giạt “Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai ”, cay đắng đang sống buồn tẻ nhạt thảm trong cô đơn nơi xa xôi hoang vu quạnh vắng. Những câu thơ miêu tả tâm trạng đau buồn của một ông quan bị thất thế, một thi nhân đa tài đa cảm mang nặng nỗi đau đời làm ta nhớ mãi:

“Sông Bồn gần chốn cát lầm
Lau vàng trúc võ âm thầm quanh hiên ”

Sống giữa nơi “cuốc kêu sầu, vượn hót véo von ” mượn chén rượu nhạt giải sầu, thi nhân vô cùng xúc động khi nghe tiếng tì bà ngỡ là đang được thưởng thức “tiên nhạc”Nỗi đau như được xoa dịu:

“Tỳ bà nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai”.

Giọng thơ buồn thương. Thi sĩ khóc mình cũng là khóc người. Giai nhân, tài tử tương ngộ. Khóc cho số phận, khóc cho tài năng, khóc cho một đời tài hoa mà nhiều cay đắng lận đận. Nhạc điệu thơ song thất lục bát diễn tả tuyệt hay, làm đẹp thêm nhiều lần hồn thơ nguyên tác. Có thể mượn ý câu thơ Kiều nói lên điệu tâm hồn của Bạch Cư Dị trong đêm tiệc hoa ấy: “Ai tri âm đó…”

  1. Tiệc hoa đầy lệ

Lần thứ nhất, tiếng tì bà vang lên từ xa “nghe vẳng bên sông ” hòa với hơi thu, vớt tiếng lau lách đìu hiu.

Lần thứ hai, tiếng tì bà réo rắt với bao thanh âm huyền diệu nhặt khoan, sầu thương… giữa tiệc hoa.

Lần thứ ba, tiếng tì bà ai oán rung lên cuối tiệc rượu. Cảm tạ lòng tri âm mà kỹ nữ “lại lựa phím đàn kíp dây”. Tiếng đàn càng trở nên thê lương hơn, sầu não hơn với cả tấm lòng đồng điệu. Tiếng đàn hay quá nghe mãi cũng không chán, nghe đến tàn canh vẫn còn muốn nghe. Hơn thế nữa, cuộc hội ngộ đêm nay đối với thi nhân, mãi mãi là một kỉniệm, mối duyên nợ tài tử – giai nhân: “sẽ vì nàng soạn sửa bài ca… Tiếng đàn thathiết, não nuột làm cho “khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi ”, trong đó chàng Tư mã cảm động nhất:

“Lệ ai chan chứa hơn người,
Giang Châu Tư mã đượm mùi áo xanh”.

Tiếng đàn kĩ nữ, chén rượu tiệc hoa, giọt lệ trên màu xanh lam – chiếc áo của quan Tư mã trong đêm thu Tầm Dương mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho số phận bi kịch nhiều đắng cay và chim nổi của khách tài tử, giai nhân trong cuộc đời.

Tiếng đàn tì bà của kĩ nữ, cuộc đời trôi nổi của một giai nhân, bước thăng trầm của ông quan Tư mã, tâm hồn một tài tử văn nhân… bấy nhiêu tình ý được Bạch Cư Dị tạo nên một bài thơ tuyệt tác. Khung cảnh buồn, cảnh ngộ buồn, tâm sự buồn… đã làm cho bài thơ thấm lệ. Tình cảm nhân đạo, giá trị nhân văn của bài thơ chính là ở chỗ đó. Chủ đề số mệnh của tài tử giai nhân ta đã gặp nhiều trong thơ văn cổ, nhưng trong bài tỳbà hành, nó được diễn tả dưới cái “tôi” trữ tình nên càng trở nên xúc động thấm thìa, vì những lời tâm sự của kĩ nữ và thi nhân là chân thực, sâu sắc.

Thưởng thức tỳbà hành qua bản dịch của một nhà thơ Việt Nam trong thế kỉ XIX, ta cảm nhận được một phần nào cái “Hồn Đường” tuyệt diệu. Tỳhà hành là một bài thơ trữ tình mang yếu tố tự sự. Bi kịch cuộc đời của tài tử, giai nhân được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ cổ kính, trang nhã, hàm súc và chứa chan u hoài. Nghệ thuật tả tiếng đàn của Bạch Cư Dị điêu luyện, tuyệt vời, cổ kim ít ai sánh kịp. Đọc những câu thơ tả tiếng đàn, ta mới vỡ lẽ ra thế nào là cái hay của Đường thi, thế nào là cái đẹp của nhạc điệu thơ song thất lục bát của dân tộc ta.

Nguồn: Những bài văn hay

Trang Thơ Hán Việt

尋隱者不遇 Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ

松下問童子,

言師採藥去。

只在此山中,  

雲深不知處。

Tùng hạ vấn đồng tử
Ngôn sư thải dược khứ
Chỉ tại thử san trung
Vân thâm bất tri xứ

Giả Đảo

(Diễn Nôm Thể Lục Bát)

Tìm Người Ở Ẩn Không Gặp

Hỏi đồng tử dưới cây tùng,
Rằng Thầy hái thuốc lên rừng bao lâu ?
Hay Thầy còn ở núi sâu.?
Mây mù che khuất biết đâu mà tìm !

Đông Thiên Triết

Trang Thơ Hán Việt

桃花依舊笑春風

題 都 城 南 莊

去  年  今  日  此  門  中
人  面  桃  花  相  映  紅
人  面  不  知  何  處  去
桃  花  依  舊  笑  春  風

崔 護 

 

Đề Đô Thành Nam Trang

Khứ niên kim nhật thử môn trung
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà sứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu xuân phong.

Trang Thơ Hán Việt

題 都 城 南 莊 Đề Đô Thành Nam Trang

 
 
去 年 今 日 此 門 中
人 面 桃 花 相 映 紅
人 面 不 知 何 處 去
桃 花 依 舊 笑 春 風
 
 崔 護

 

Đề Đô Thành Nam Trang

Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân Diện bất tri hà sứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu xuân phong.

Thôi Hộ

(Chuyển dịch thể Lục Bát)

Ngày này năm ngoái bên song,
Cội đào ai tựa má hồng thắm tươi.
Năm nay sao vắng bóng người ?,
Hoa đào vẫn trổ ghẹo cười gió xuân.

Đông Thiên Triết


Trang Thơ Hán Việt

長干行 (其一) Trường Can Hành (hồi 1)

Thưa cả Làng Thơ,

        Thỉnh thoảng có chút hứng thú trong lúc nhàn rỗi, tôi vào các trang web bằng Hoa ngữ để xem các bài thơ Đường thì thấy có bài thơ “ Trường Can Hành” của Lý Thái Bạch được ghi chú có sự sai biệt một số chữ trong câu thơ, như trên trang web của ông Bùi Minh Long 裴 明 龍  (ông Bùi Minh Long là một học giả và cũng là môt trước tác gia nổi tiếng ở Hoa Lục).

        Theo ông ghi lại thì có sự sai biệt một vài chữ trong câu thơ Trường Can Hành, nhưng ông cũng không khẳng định chữ nào là đúng, chữ nào là sai, Nay tôi phóng lên đây để quý vị tùy nghi nghiên cứu và bài thơ chuyển dịch theo thể Lúc Bát của tôi.

        Những chữ sai biệt xin ghi bên hong của mỗi câu thơ và có tô màu sắc khác để quý vị dễ nhận dạng các chữ sai biệt đó.

        Từ trên đếm xuống theo thứ tự từng câu, câu thứ 8 chữ THƯỜNG hay là chữ THƯỢNG, câu 14 là chữ KHỞI hoặc SỈ, câu 16 là chữ DỰ có thêm bộ THỦY, câu 18 chữ MINH hay là THANH, câu 19 chữ TRÌ hay là CỰU, câu 20 chữ LỤC hay là chữ THƯƠNG, câu 23 chữ LAI hay là HUỲNH.

         Thưa các bạn, ngay như các bài thơ Đường đã được in ấn từ trong nước Trung Quốc (Đài Loan hoặc Hoa Lục) vẫn còn bị sai lạc, huống hồ các bài thơ Đường được chuyển dịch sang Việt ngữ và được in ấn theo lốí cổ điển trước những năm 75, như là dùng thợ sắp chữ bằng tay và dùng bảng kẻm bằng chì thì chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những nhầm lẫn hoặc sai lạc dẫn đến chỗ tam sao thất bổn là do đó.

        Nay tôi xin gởi đến quý vị nào yêu thích thơ Đường với bài Trường Can Hành (hồi 1) này để quý vị tuỳ nghi suy nghiệm.

        Trân trọng

長干行 二首  (其一 )

妾發初覆額,
折花門前劇

郎騎竹馬來
,
繞床弄青梅

同居長干里
,
兩小無嫌猜

十四為君婦
,
羞顏未
(一作 )
低頭向暗壁,
千喚不一回

十五始展眉
,
願同塵與灰

常存抱柱信
,
上望夫臺
(一作 )
十六君遠行,
瞿塘灩
水旁
五月不可觸,
天上哀
(一作 )
門前行跡,  (一作 )
一一生
(一作 )
苔深不能掃
,
落葉秋風早

八月胡蝶
,  (一作)
雙飛西園草
感此傷妾心
,
坐愁紅顏老

早晚下三巴
,
預將書報家

相迎不道遠
,
直至長風沙


李 白

Trường Can Hành, ( kỳ I)

Thiếp phát sơ phúc ngạch.
Chiết hoa môn tiền kịch,
Lang kỵ trúc mã lai.
Nhiễu sàng lộng thanh mai,
Đồng cư Trường Can lý.
Lưỡng tiểu vô hiềm sai,
Thập tứ vi quân phụ.
Tu nhan vị thường khai,   (nhan hay là thượng)
Đê đầu hướng ám bích.
Thiên hoán bất nhất hồi,
Thập ngũ thủy triển mi.
Nguyện đồng trần dữ hôi,
Thường tồn bão trụ tín.
Khởi thượng vọng phu đài,  (khởi hoặc là sỉ)
Thập lục quân viễn hành.
Cù Đường Liễm Dự đôi,          (có bộ thủy)
Ngũ nguyệt bất khả xúc.
Viên minh thiên thượng ai,  (minh hoặc là thanh)
Môn tiền trì hành tích.           (trì hoặc là cựu)
Nhất nhất sinh lục đài,           (lục hoặc là thương)
Đài thâm bất khả tảo.
Lạc diệp thu phong tảo.
Bát nguyệt hồ điệp lai,           (lai hoặc là huỳnh)
Song phi tây viên thảo.
Cảm thử thương thiếp tâm,
Tọa sầu hồng nhan lão.
Tảo vãn hạ Tam Ba,
Dự tương thư báo gia.
Tương nghinh bất đạo viễn,
Trực chí Trường Phong Sa.

Lý Bạch


Dịch nôm theo thể thơ Lục Bát
HÀNH KHÚC TRƯỜNG CAN (1)

Tóc trên trán Thiếp vừa dài,

Hái hoa trước cửa, ngày ngày đùa chơi.
Ngựa tre Chàng cỡi đến nơi,
Quanh sàng nghịch ném tơi bời quả mơ.
Truờng Can cùng ngụ bấy giờ,
Hồn nhiên hai đứa ngây thơ biết gì.
Lúc Thiếp mười bốn vu qui,
Thẹn thùng má đỏ thường khi rượi buồn.
Quay đầu vào vách, đêm buông,
Nghìn câu Chàng gọi thiếp luôn im lời.
Mười lăm nhan sắc tuyệt vời,
Đường trần thề nguyện trọn đời thủy chung.
Thương Chàng nghĩ ngợi mông lung,
Cần chi lên gác tựa lưng đợi chồng.
Năm mười sáu, Chàng ruổi rong,
Cù Đường, Liễm Dự qua dòng sông sâu.
Tháng Năm ngăn cách mây sầu,
Trời buồn, vượn hú một màu thê lương.
Chân Chàng in dấu trước vườn,
Rêu xanh còn mọc quanh tường, mái tranh.
Làm sao quét sạch rêu xanh,
Thu về lá rụng trơ cành, ban mai.
Tháng Tám bươm bướm vãng lai,
Đủ đôi đủ cặp lượn bay Tây vườn.
Khiến lòng sầu nhớ vấn vương,
Má hồng phai nhạt canh trường xót thương.
Tam Ba, sớm tối băng đường,
Được tin nhạn báo Chàng đương trở về.
Đón nhau nào quãng sơn khê,
Trường Phong Sa đó, phu thê tương phùng.

Đông Thiên Triết

Trang Thơ Hán Việt

長 干 行 (其二) Trường Can Hành (hồi 2)

.
深閨里, (一作)
烟塵不曾識
嫁與長干人
,
沙頭候風色

五月南風興
,
思君巴陵
(一作)
八月西風起,
想君發揚子

去來悲如何
,
見少離別多

湘潭幾日到
,
妾夢越風波

昨夜狂風度
,
吹折江頭樹

淼淼暗無邊
,
行人在何處

好乘浮雲驄
,
佳期蘭渚東

鴛鴦綠蒲上
,
翡翠錦屏中

自憐十五餘
,
顏色桃花紅

那作商人婦
,
愁水復愁風


李 白

 

Trường Can Hành (hồi II)

Ức thiếp thâm khuê lý(thiếp hay là tích)
Yên trần bất tằng thức.
Giá dữ Trường Can nhân,
Sa đầu hậu phong sắc.
Ngũ nguyệt nam phong hưng,
Tư quân hạ Ba Lăng.      
(hạ hay là tạï)
Bát nguyệt tây phong khởi,
Tưởng quân phát Dương Tử.
Khứ lai bi như hà,
Kiến thiểu ly biệt đa.
Tương đàm kỷ nhật đáo,
Thiếp mộng việt phong ba.
Tạc dạ cuồng phong độ,
Xuy chiếc giang đầu thụ.
Miểu miểu án phong biên,
Hành nhân tại hà xứ.
Hảo thừa phù vân thông,
Giai kỳ lan chử đông.
Uyên ương lục bồ thượng,
Phỉ thúy cẩm bình trung.
Tự lân thập ngũ dư,
Nhan sắc đào hoa hồng.
Na tác thương nhân phụ,
Sầu thủy phục sầu phong.

Lý Bạch
———————————————————–

(Chuyển dịch theo thể Lục Bát)
HÀNH KHÚC TRƯỜNG CAN (KỲ II)

Phòng khuê nhốt bóng chờ ai,
Màng chi khói bụi đêm ngày thổi ngang.
Lấy chồng người xứ Trường Can,
Trông sang bãi cát mây ngàn gió bay.
Tháng Năm ngọn gió vần xoay,
Ba Lăng Chàng đến, Thiếp hoài nhớ mong.
Gió Tây tháng Tám vàng đồng,
Chàng từ Dương Tử qua sông trở về.
Lòng hằng ôm nỗi tái tê,
Tao phùng thì ít, tràn trề biệt ly.
Tương Đàm năm tháng chàng đi,
Trong mơ Thiếp thấy vượt kỳ phong ba.
Cuồng phong vừa mới đêm qua,
Bên sông cây ngã đổ sa xuống bờ.
Đêm ngày gió thổi mịt mờ,
Ngổn ngang tâm sự, biết giờ Chàng đâu?.
Ước cỡi chòm mây trên đầu,
Bến Lan hẹn gặp bên cầu hướng Đông.
Uyên ương xanh cỏ bồ đồng,
Bình phong phỉ thúy gấm hồng kết đôi.
Mười lăm tuổi ngọc yêu đời,
Đóa hoa đào thắm tuyệt vời dung nhan.
Thiếp nay làm vợ thương lang,
Sầu dâng ngập nước, bẽ bàng gió reo.

Đông Thiên Triết

 

Trang Thơ Hán Việt

清平調 詞(三首) Thanh Bình Điệu (Ba bài)

其一

雲想衣裳花想容
春風拂檻露華濃
若非群玉山頭見
會向瑤臺月下逢
 
其二
一枝農艷露凝香
雲雨巫山枉斷腸
借問漢宮誰得似
可憐飛燕倚新妝
 
其三
名花傾國兩相歡
長得君王帶笑看
解釋春風無限恨
沈香亭北倚欄干
 

 

Chuyển ngữ:
Thanh Bình Điệu, (Từ Tam Thủ):

(Kỳ 1)
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Diêu Đài nguyệt hạ phùng.

(Kỳ 2)
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự,
Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.

(Kỳ 3)
Danh hoa khuynh quốc lưởng tương hoan,
Trưởng đắc Quân Vương đới tiếu khán.
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
Trầm hương Đình Bắc ỷ lan can.

Lý Bạch

==================================

Phóng Dịch
3 Bài Thanh Bình Điệu:

Bài Nhất
Mây tợ xiêm y, hoa tựa nàng,

Hột sương ngào ngạt, gió xuân sang.
Nhớ trên núi Ngọc ta từng gặp ?
Dưới ánh trăng ngà, hẹn đá vàng.

Bài Nhì
Đóa hồng diễm lệ ngạt ngào hương,
Mưa gió Vu Sơn luống đoạn trường.
Dám hỏi Hán cung ai sánh kịp?
Thương thay! Phi Yến khó so dường.

Bài Ba
Khuynh thành sắc nước đẹp duyên đôi,

Thỏa dạ Quân Vương chỉ nụ cười.
Mang gió xuân về xua nỗi muộn,
Đình Trầm hai bóng tựa lưng ngồi.

Đông Thiên Triết.