Trang Thơ Hán Việt

蓬 境

蓬 境

寒 風 吹 起 冷 書 房, 
夜 月 松 林 明 處 通.  
窗 外 棉 花 白 滿 降,  
廚 中 灼 爍 發 煙 紅.                    

倒 酒 壺 枯 覘 豔 色, 
乾 杯 唇 接 仰 嬌 丰.                
浪 情 醉 酊 抱 身 玉,  
捲 繾 雙 心 入 境 蓬. 

東 天 哲

Chuyn ng:
Bng Cnh
Hàn phong súy khi lãnh thư phòng,
D nguyt tùng lâm minh s thông.
Song ngoi miên hoa bch mãn giáng,
Trù trung chước thước phát yên hng.
Đo tu h khô chiêm dim sc,
Can bôi thn tiếp ngưỡng kiu phong.
Lãng tình túy đính bão thân ngc,
Quyn khin song tâm nhp cnh bng.
Phóng dịch:
Gió thi hàn băng lnh khp phòng,
Trăng ngà tri sáng rực rng thông.

Ngoài hiên lt pht bông gòn trng,
Dưới bếp lung linh ánh la hng.
Rượu rót lưng bu chiêm nét đp,
Môi k cn chén ngm đường cong.
Men tình dy sóng trùm thân ngc,
Qun quyn đôi tim nhp cnh bng.
ĐôngThiênTriết
 
Trang Thơ Hán Việt

七旬壽紀念日- Thất Tuần Thọ Kỷ Niệm Nhật

七旬壽紀念

人  生  七  拾  古  来  稀,
天  賜  身  康  壽  滿  期。
賦  酒  茶  詩  消  遣  趣,
望  雲  心  痛  故  鄉  悲。

東 天 哲  

Tht Tun Th Kỉ Niệm Nht
Nhân sinh thất thp c lai hy, (*)
Thiên t
thân khang th mãn kỳ.
Phú t
u trà thi tiêu khin thú,
V
ng vân tâm thng c hươ
ng bi.
Phng Dch :
K
Nim Tht Tun Th

Rng tui by mươi được my ngưởi,
Tr
i ban thân khe, sng vui tươi.
R
ượu trà thi phú làm tiêu khiển,
Xót d
nhìn mây nh nước tôi!.

Đông Thiên Triết 
(*)-cổ ngữ      
 
Trang Thơ Hán Việt

Túy Tiếu Hi! 醉 釂 嚱 !

醉 釂 嚱!

單   雁   失   群   惚   慢   飛,
夕   雲   漠   漠   淡   風   隨。
望   山   想   國   撥   船   搭,
借   酒   消   愁   醉   剩   卮。

東 天 哲

Chuyển Ngữ:
Túy Tiếu Hi!

Đơn nhạn thất quần hốt mạn phi,
Tịch vân mạc mạc đạm phong tùy.
Vọng sơn tưởng quốc bát thuyền đáp,
Tá tửu tiêu sầu túy thặng chi!
Phỏng Dịch:
Cn men Say!
Thương thay cánh nhạn lạc bầy,
Mây chiều giăng lối khói bay mịt mờ.
Nhìn đồi nhớ nước lòng mơ,
Nâng ly giải muộn sang bờ còn say!
Đông Thiên Triết
Diễn Ý Bài Thơ:
Thương thay! khi nhìn thấy cánh nhạn đang lạc bầy, hớt hơ hớt hải trên tầng mây xám hồng, bồng bềnh, lưng trời vô định vào một buổi chiều tàn.
Kế đó, trông thấy xa xa những rặng núi lam chiều khiến trong lòng mơ ước có con thuyền để đáp về quê hương yêu dấu thăm lại cố hương.
Những ước mơ viễn vong đó, dễ gì được toại nguyện, thôi thì tạm mượn chén rượu để giải sầu, ôi! đến khi cạn chén và cứ thế mà tưởng chừng như sự thật, nghe chừng như con thuyền sắp cập bến và men rượu còn túy lúy nồng độ.

Trang Thơ Hán Việt

茂戌新年開筆 Mậu Tuất Tân Niên Khai Bút

茂戌新年開筆
新 年 開 筆 自 更 頭, 
酒 醉 流 連 馬 上 駒.
魄 已 張 弓 詩 化 玉,
魂 才 拔 劍 賦 成 珠.
麒 麟 鼓 舞 梅 長 發,
鞭 砲 歌 吟 曲 好 逑.
夢 裡 中 佳 人 絕 色,
和 予 整 夜 奏 深 樓.
東天哲.
2月15日2018年
Chuyển Ngữ:
M
ậu Tuất Tân Niên Khai Bút

Tân niên khai bút tự canh đầu,
Tửu túy lưu liên mã thượng câu.
Phách dĩ trương cung, thi hóa ngọc,
Hồn tài bạt kiếm, phú thành châu.
Kỳ lân cổ vũ, mai trường phát,
Tiên pháo ca ngâm, khúc hảo cầu.
Mộng lý trung, giai nhân tuyệt sắc,
Hòa dư chỉnh dạ tấu thâm lầu.
Phỏng Dịch :
Khai Bút Đầu Năm Mậu Tuất 

T
ết nầy khai bút tự canh đầu,
Mà đã say mèm c
ưỡi vó câu.
Phách m
ới giương cung, thi nhả ngọc,
H
ồn vừa tuốt kiếm, phú phun châu.
Lân theo tr
ống thúc, hoa mai trổ,
Pháo n
ổ thơ ngâm, tiếng nhạc chầu.
Trong gi
ấc hòe, giai nhân tuyệt sắc,
Cùng ta múa hát su
ốt đêm thâu.

Đông Thiên Triết
Mậu Tuất niên. Feb/15/2018
Trang Thơ Hán Việt

遙夜无睡 Diêu Dạ Vô Thụy

遙夜无睡
朦 朧 无 睡 滿 更 長,
眼 累 幽 懷 望 故 鄉。
稍 稍 門 搖 風 雨 冷,
悠 悠 月 映 牡 丹 香。
霧 融 霜 結 葉 稜 角,
狗 吠 聲 嘩 廟 裏 堂。
觸 景 詩 提 而 想 棄,
但 憂 君 閱 使 悲 傷。
東天哲. 3月19日2012年
(Chuyển ngữ)
Diêu Dạ Vô Thụy
Mông lung vô thy mãn canh trường,
Nhãn ly u hoài vng cố hương.
So so môn dao phong vũ lãnh,
Du du nguyt ánh mu đơn hương.
V dung sương kết diệp lăng giác,
Cu ph thanh hoa miếu lý đường.
Xúc cnh thi đ nhi tưởng khí,
Đãn ưu quân duyt sử bi thương.
Đông Thiên Triết. Mar 19/2012
(Phỏng Dịch)
Đêm Dài Thao Thức
Chp chn thao thc sut canh trường,
M
i mt u hoài vng c hương.
Cánh c
a đong đưa, cơn gió lnh
V
ng trăng lp ló, mu đơn hường.
H
t sương móc l quanh vin lá,
Con chó tru đêm tr
ước miếu đường.
Cám c
nh đ thơ, nhưng đnh vt,
Ng
i người chng đc chuyn bi thương
ĐôngThiênTriết. Mar 19/2004
Trang Thơ Hán Việt

桃 花 谿 Đào Hoa Khê

桃 花 谿
隱 隱 飛 橋 隔 野 煙,
石 磯 西 畔 問 漁 船。
桃 花 盡 日 隨 流 水,
洞 在 清 谿 何 處 邊。
張 旭 
Chuyển Ngữ: Đào Hoa Khê
Ẩn ẩn phi khiều cách dã yên,
Thạch cơ Tây bạn vấn ngư thuyền :
Đào hoa tận nhựt tùy lưu thuỷ,
Động tại thanh khê hà xứ biên ?
Trương Húc
Chuyển dịch:

Cầu bay ẩn hiện khói sương mây,

Dám hỏi ngư thuyền bến đá Tây :
Ngày tháng hoa đào xuôi nước chảy,
Lạch xanh Tiên động hẳn bên này ?
ĐôngThiênTriết
Sử Liệu

Sự Tích Đằng Vương Các 滕王閣序

Đằng Vương Các nằm ở phía tây bắc Nam Xương, bờ đông sông Cám Giang. Được Lý Nguyên Anh (con trai của Đường Cao Tổ Lý Uyên, em của Đường Thái Tông Lý Thế Dân) cho xây dựng vào năm Vĩnh Huy thứ 4 (năm 653) thời nhà Đường. Năm 652 Lý Nguyên Anh được điều đến Tô Châu để nhậm chức Thứ Sử, ông sai Đô Đốc Hồng Châu xây dựng cái Các này để làm chỗ ở. Do Lý Nguyên Anh được phong là “Đằng Vương”, cho nên cái Các này được gọi là Đằng Vương Các 滕王閣, Các này tọa lạc ở bên sông Tầm Dương. Khoảng 20 năm sau, đô đốc Hồng Châu là Diêm Bá Dư, thường được gọi là Diêm Công, cho trùng tu Các. Sau khi hoàn thành công việc, ông cho mời các văn, thi sĩ đến sáng tác thơ văn để làm kỷ niệm. Lúc bấy giờ, Vương Bột là một thanh niên tài hoa hơn người, nhân lúc đi thăm cha làm Thứ Sử ở đất Giao Châu, khi thuyền đến bến Mã Dương, nghe tin Diêm Đô Đốc mở tiệc lớn mời văn nhân, thi sĩ khắp nơi, Bột muốn đến dự. Đáng lý thuyền phải đi thêm ba ngày nữa mới đến được Đằng Vương Các, nhưng may nhờ hôm ấy có gió thuận, nên Vương Bột đã đến nơi chỉ trong một đêm, do đó cũng kịp lúc được vào dự yến tiệc. Thật ra, lúc ấy Diêm Dô Đốc muốn khoe khoang tài văn chương lỗi lạc của người nhà. Nhưng không ngờ gặp phải một tân khách trẻ tuổi nhất, (lúc bấy giờ chỉ mới 15 tuổi)  lại làm dược bài thơ hay nhất, có câu sau đây được mọi người thán phục thiên tài: ( Lạc Hà Dử Cô Vụ Tề Phi; Thu Thủy Cộng Trường Thiên Nhất Sắc) “, ”, có nghĩa là: Ráng chiều cùng cò trắng đều bay, Màu nước với da trời cùng một sắc. Từ đó, danh của Vương Bột nổi như cồn, cho nên có câu thơ tán dương như sau: “Thời Lai Phong Tống Đằng Vương Các 時來風送滕王閣. Nghĩa là : thời vận đã tới nên mới có gió đưa (chàng) đến gác Đằng Vương Các cho kịp lúc.

Tài Liệu tham khảo: Wikipedia.  
Thành Ngữ Điển Tích, Danh Nhân Từ Diển

Thơ Tiền Chiến

Chinh Phụ Ngâm Khúc

Chinh Phụ Ngâm Khúc
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
Nước thanh bình ba trăm năm cũ.
Áo nhung trao quan vũ từ đâỵ
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào.
Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.
Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,
Bước đi một bước dây dây lại dừng.
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San.
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử,
Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà Lương chia rẽ đường này,
Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng Dương.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng ?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay trong bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ gối chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai ?
Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này nghỉ mát phương nao ?
Xưa nay chiến địa dường bao,
Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.
Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon.
Ôm yên gối trống đã chồn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.
Hình khe, thế núi gần xa,
Dứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
Sương đầu núi buổi chiều như giội,
Nước lòng khe nẻo suối còn sâu.
Thương người áo giáp bấy lâu,
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ,
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên ?
Tưởng chàng giong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi Hãn Hải thì miền Tiêu Quan.
Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ,
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong.
Lên cao trông thức mây lồng,
Lòng nào là chẳng động lòng bi thương !
Chàng từ sang Đông Nam khơi nẻo,
Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu ?
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.
Nức hơi mạnh, ơn dày từ trước,
Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu ?
Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.
Dấu binh lửa, nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về.
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,
Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành.
Áng công danh trăm đường rộn rã,
Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi.
Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai,
Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay ?
Những mong cá nước sum vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ vương tôn.
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm thôi hôm những sầu.
Khách phong lưu đương chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan sơn để cách, hàn huyên bao đành.
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục, oanh già,
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.
Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông.
Nay đào đã quyến gió Đông,
Phù dung lại đã bên sông bơ sờ.
Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy,
Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm ?
Ngập ngừng, lá rụng cành trâm,
Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao.
Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ,
Chiều lại tìm, nào thấy tiêu hao ?
Ngập ngừng gió thổi chéo bào,
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.
Tin thường lại, người không thấy lại,
Gốc hoa tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Sân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ.
Thư thường tới, người không thấy tới,
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai.
Thử tính lại diễn khơi ngày ấy,
Tiền sen này đã nẩy là ba.
Xót người lần lữa ải xa,
Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài.
Tình gia thất nào ai chẳng có,
Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương.
Mẹ già phơ phất mái sương,
Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.
Nay một thân nuôi già dạy trẻ,
Nỗi quan hoài mang mể biết bao !
Nhớ chàng trải mấy sương sao,
Xuân từng đổi mới, Đông nào còn dư.
Kể năm đã ba tư cách diễn,
Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang.
Ước gì gần gũi tấc gang,
Giải niềm cay đắng để chàng tỏ hay.
Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá,
Gương lầu Tần dấu đã soi chung.
Cậy ai mà gửi tới cùng,
Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư.
Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía,
Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi.
Cậy ai mà gửi tới nơi,
Để chàng trân trọng dấu người tương thân.
Trải mấy xuân, tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhàn, luống tưởng thư phong,
Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.
Gió tây nổi không đường hồng tiện,
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.
Đề chữ gấm, phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền tin dở còn ngờ.
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai, hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài, xiêm giắt thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng ?
Đèn có biết, dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương !
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phi’m loan ngại chùng.
Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non Yên dù chẳng tới miền,
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Mưa dường cưa xẻ héo cành ngộ
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa, dưới nguyệt, trong lòng xiết đau.
Đâu xiết kể, muôn sầu nghìn não,
Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi.
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa.
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói,
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song.
Nương song luống ngẩn ngơ lòng,
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai ?
Biếng trang điểm, lòng người sầu tủi,
Xót nỗi chàng, ngoài cõi Giang Lăng.
Khác gì ả Chức, chị Hằng,
Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng.
Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối,
Buồn chứa đầy, hãy thổi làm cơm.
Mượn hoa, mượn rượu giải buồn,
Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.
Gõ sanh ngọc mấy hồi không tiếng,
Ôm đàn tranh mấy phi’m rời tay.
Xót người hành dịch bấy nay,
Dặm xa mong mỏi hết đầy lại vơi.
Ca quyên ghẹo, làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua, như rứt buồng gan.
Võ vàng đổi khác dung nhan,
Khuê ly mới biết tân toan dường này.
Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ,
Chua cay này, há có vì ai ?
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề.
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn.
Duy còn hồn mộng được gần,
Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người.
Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ,
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa.
Sum vầy mấy lúc tình cờ,
Chẳng qua trên gối một giờ mộng Xuân.
Giận thiếp thân lại không bằng mộng,
Được gần chàng bến Lũng, thành Quan.
Khi mơ những tiếc khi tàn,
Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không !
Duy có một tấm lòng chẳng dứt,
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi.
Lòng theo nhưng chửa thấy người,
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.
Trông bến Nam, bãi che mặt nước,
Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh.
Nhà thôn mấy xóm chông chênh,
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.
Trông đường Bắc, đôi chòm quán khách,
Mây rà cây xanh ngất núi non.
Lúa thành thoi thóp bên cồn,
Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.
Non Đông thấy lá hầu chất đống,
Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai.
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.
Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu.
Ngàn thông chen chúc chòm lau,
Cách duềnh thấp thoáng người đâu đi về.
Trông bốn bề chân trời mặt đất,
Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen.
Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn,
Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc Quan ?
Gậy rút đất dễ khôn học chước,
Khăn gieo cầu nào được thấy tiên.
Lòng này hóa đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.
Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng ?
Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa.
Hướng dương lòng thiếp như hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng bởi tại bóng dương.
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần.
Chồi lan nọ trước sân đã hái,
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẩn thờ.
Bóng Ngân Hà khi mờ khi tỏ,
Độ Khuê Triền buổi có buổi không.
Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc Đẩu thôi Đông lại Đoài.
Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành ngô.
Lạnh lùng thay bấy chiều thu,
Gió may hiu hắt trên đầu tường vôị .
Một năm một nhạt mùi son phấn,
Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi.
Xưa sao hình ảnh chẳng rời,
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương.
Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in.
Gió Xuân ngày một vắng tin,
Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì.
Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy,
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau.
Nọ thì ả Chức chàng Ngâu,
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.
Thương một kẻ phòng không luống giữ,
Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau.
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
Người đời thấm thoắt qua màu xuân xanh.
Xuân thu để giận quanh ở dạ,
Hợp ly đành buồn quá khi vui.
Oán sầu nhiều nỗi tơi bời,
Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.
Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước,
E đến khi đầu bạc mà thương.
Mặt hoa nọ gã Phan Lang,
Sợ khi mái tóc pha sương cũng ngừng.
Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở,
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa,
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ giòng.
Gác nguyệt nọ mơ màng vẻ mặt,
Lầu hoa kia phảng phất hơi hương.
Trách trời sao để lỡ làng,
Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên.
Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội,
Cũng dập dìu, chẳng vội phân trương.
Chẳng xem chim yến trên rường,
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.
Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
Liễu, sen là thức cỏ cây,
Đôi hoa cùng sánh, đôi dây cùng liền.
Ấy loài vật tình duyên còn thế,
Sao kiếp người nỡ để đấy đây ?
Thiếp xin muôn kiếp sau này,
Như chim liền cánh, như cây liền cành.
Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy,
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.
Xin làm bóng theo cùng chàng vậy,
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên.
Chàng nương vầng nhật, thiếp nguyền,
Mọi bề trung hiều thiếp xin vẹn tròn.
Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt,
Sức tý dân dường sắt tri tri.
Máu Thuyền Vu, quắc Nhục Chi,
Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn.
Mũi đòng vác đòi lần hăm hở,
Đã lòng trời gìn giữ người trung.
Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải Bắc, treo cung non Đoài.
Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải,
Tiếng khải ca trở lại Thần Kinh.
Đỉnh non khắc đá đề danh,
Triều thiên vào trước cung đình dâng công.
Nước duềnh Hán việc đòng rửa sạch,
Khúc nhạc từ réo rắt lừng khen.
Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân.
Nền huân tướng đai cân rạng vẻ,
Chữ đồng hưu bia để nghìn đông.
Ơn trên tử ấm thê phong,
Hiển vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.
Thiếp chẳng dại như người Tô Phụ,
Chàng hẳn không kém lũ Lạc Dương.
Khi về chẳng quả ấn vàng,
Trên khung cửi dám dẫy duồng làm cao.
Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
Xin vì chàng giũ lớp phong sương.
Vì chàng tay chuốc chén vàng,
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.
Giở khăn lệ, chàng trông từng tấm,
Đọc thơ sầu, chàng thẩm từng câu.
Câu vui đổi với câu sầu,
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.
Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
Sẽ ca dần ren rén đòi liên.
Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.
Cho bõ lúc xa sầu, cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.
Ngâm nga mong gửi chữ tình,
Dường này âu hẳn tài lành trượng phu !
Chinh Phụ Ngâm Diễn Nôm (Đoàn Thị Điểm)
Chinh Phụ Ngâm Khúc (Đặng Trần Côn)