Một sáng nghe tin “Lệnh Tản Hàng”!
Than ôi! đau xót tận tâm can. Trùng trùng bóng giặc vào thôn cướp, Điệp điệp quân ta xuống ngựa hàng. Giáp cởi, nghe tơ lòng quặn nát, Gươm quăng, thấy tấc dạ tan hoang. Bao Thu phong kiếm ôm sầu hận, Mà ngỡ tim gan rỉ sét vàng.San Jose – Apr 30/2000
Bài Họa 1: XIN HÃY BỀN LÒNG
Trượng phu thất thủ tránh quy hàng, Quốc phá anh hùng nén phế, can. Xã tắc suy cơ, tà thắng trận, Sơn hà mạt vận, chánh tan hàng. Hùng anh thất thế không là nhục, Kiệt nữ sa chân chẳng phải hoang. Xin hãy bền lòng nung chí cả, Mai về phục quốc, dựng cờ vàng!
Nguyễn Trần Công Chính
Bài Họa 2: NGỌN LỬA VÀNG
Chưa đánh đã ra “Lệnh Tản Hàng” Thế là vô dụng lưỡi Tương-Can Ba Quân quyết tử đành buông giáp Nhiều Tướng quyên sinh chẳng chịu hàng Đất nước phút giây đổi chủ lạ, Dân Nam thoáng chốc thành con hoang Bao năm chờ đợi ngày quang phục Vẫn nhóm trong Thơ ngọn lửa vàng
Nhất Hùng
Bài Họa 3: LÁ CỜ VÀNG
Nhớ ngày Quốc hận viết vài hàng, Đâu phải hậu sanh chẳng hệ can. Giúp nước hy sinh thề chẳng sợ, Cứu dân dẫu thác quyết không hàng. Dù cho thân lấp nơi đồi vắng, Hay bị xác vùi ở chốn hoang. Vẫn dạ anh hùng nuôi chí lớn,
Sống giương, chết phủ lá cờ vàng.
Việt M
Bài Họa 4: LỆNH TAN HÀNG Đọc Xuôi: (Hoạ 4 vần)
Đau lòng khổ nhục lệnh tan hàng, Hỡi núi sông ơi thẹn não can. Sầu đất thảm dân buồn lệ cảm, Tủi đời thương lính luỵ thân hàng Rầu rầu súng bỏ đành tang tóc, Hận hận cờ rơi chịu phế hoang! Dâu bể đó… từ đây nước mất… Đau lòng khổ nhục lệnh tan hàng!
Bài Họa 5: Đọc Ngược:
Hàng tan lệnh nhục khổ lòng đau, Mất nước đây… từ đó bể dâu. Hoang phế chịu rơi cờ hận hận, Tóc tang đành bỏ súng rầu rầu! Hàng thân luỵ lính thương đời tủi, Cảm lệ buồn dân thảm đất sầu. Can não thẹn ơi sông núi hỡi… Hàng tan lệnh nhục khổ lòng đau!
Liêu Xuyên
Bài Họa 6: ĐỪNG TỰ TRÁCH
Không nên tự trách kẻ đầu hàng Lãnh đạo vô mưu hận tím gan Nợ nước người trên làm lỗi đạo Tình người phận dưới phải sai hàng Đồng minh phản bội sầu đồng dại Số mệnh an bài khóc ngựa hoang Thời thế không hơn… thời phải thế Không nên tự trách kẻ đầu hàng
M.Đ
Bài Họa 7: Hy Vọng
Thư hùng chưa thoả ” Lệnh Tan Hàng ”
Căm uất trời xanh…nát phế can
Những tưởng ầm ầm cơn sấm nổ
Nào hay nhục nhã chuyện qui hàng
Khổ sai núi thẳm bầy trâu nhọc
Biệt xứ rừng sâu lũ khỉ hoang
Hy vọng có ngày dân quốc rạng
Thăng Long phấp phới ngọn Cờ Vàng
Nam Huy
Bài Họa 8: VIẾT SỬ VÀNG
Lở vận, hùng anh cũng giả hàng ! Thương thay ! nghĩa khí nét trung can Sơn hà đã đến hồi điên đảo Xã tắc còn chi, phải lụy hàng Thù trả mười năm nào đã muộn ! Hận sâu suốt kiếp, biến rừng hoang Bền lòng, vững chí ….sau nầy ắt Có một ngày mai viết sử vàng.
Phó thường Dân
Bài Họa 9: HỌA: KỶ NIỆM XÓT ĐAU
Buồn nghe tím ruột lệnh tan hàng, Nhỏ máu tim cuồn cuộn thấu can. Giặc thét vang ầm thôn ấp chiếm, Ta tan tát súng bỏ quy hàng. Xó phường ngơ ngác dân than khóc, Phố xá đau lòng chạy bỏ hoang. Lịch sử xa xôi nay ẩn hiện, Như dao cắt đứt giấc mơ vàng.
Chưa thua sao bảo phải đầu hàng ? Nghe tức máu trào tận phế can Lũ khỉ Trường Sơn chen sắp lớp Đàn bò Pác Bó kéo trăm hàng Chỏng mông ỉa đái như trâu dại Ngẩng cổ hét hò tợ thú hoang Xô lấn vào thành vơ vét của Mang về phương bắc mấy kho vàng
Người Lính Già Gác Cầu
Bài Họa 12 CƠ TRỜI ĐỊNH THẾ?
Nghe tin buông súng, Lệnh Tan Hàng, Huyết chảy rần rần khắp phế can. Lũ khỉ vào thành cười đắc chí, Quân ta quăng giáp lệ tuôn hàng. Đem con bỏ chợ đồng minh xấu, Cướp của hốt vàng đám thú hoang. Có lẽ mệnh Trời an định thế, Chớ đâu dễ hạ ngọn cờ vàng.
Hoàng mai lạc lạc mãn tiền đình, Song ngoại mã đề phong vũ linh. Mộng lí trùng quy tham cố quốc, Giang hà thu nguyệt khả ninh bình.
Diễn Dịch: Bận Lòng
Những cánh mai vàng, đêm qua nở rộ và rơi rụng trước sân đình, Ngoài song vó câu mưa gió tiếng chuông (phong linh) thoáng qua nhanh. Trong giấc nồng hằng đêm mơ thấy trở bước về cố quốc, Dưới ánh trăng thu lo nghĩ đến quê nhà có bình yên không?
Lả tả mai vàng trải ngập sân đình, Ngoài song bão tố vó ngựa tiếng phong linh. Trong mơ trở bước về thăm đất tổ, Dưới trăng thu, quê mình có yên bình?
问君能有几多愁?恰似一江春水向东流。 Vấn quân năng hữu kỷ đa sầu, Kháp tự nhất giang xuân thủy hướng đông lưu Bạn có thể có bao nhiêu nỗi buồn? Tựa như dòng sông suối chảy về hướng đông. 作者:南唐后主 李煜 Tác giả: Hậu Chủ Nam Đường: Lý Dục
——xxxxxxxxxxx——
Bài Thơ này được AI bình luận và phân tích như sau: Bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt “Quan Hoài” của Đông Thiên Triết là một khúc trữ tình đầy hoài niệm và thao thức về cố quốc, thể hiện tâm trạng của người xa quê trong cảnh thu buồn. Nguyên tác Hán Việt và chuyển ngữ
Quan Hoài 關懷
黃梅落落滿前庭,
窗外馬蹄風雨鈴。
夢裡重歸探故國,
江河秋月可寧平。
Chuyển ngữ: Bận Lòng
Những đóa mai vàng, đêm qua nở rộ và rơi rụng trước sân đình,
Ngoài song vó câu mưa gió tiếng chuông (phong linh) thoáng qua nhanh.
Trong giấc nồng hằng đêm mơ thấy trở bước về cố quốc,
Dưới ánh trăng thu lo nghĩ đến quê nhà có bình yên không.
Phân tích nội dung và nghệ thuật 1. Tâm trạng hoài cố quốc
Câu 3–4 là trung tâm cảm xúc: “Mộng lí trùng quy tham cố quốc / Giang hà thu nguyệt khả ninh bình”– giấc mộng trở về quê cũ, nhưng lòng vẫn lo lắng liệu quê hương có yên bình.
Tác giả không chỉ nhớ quê mà còn lo cho vận nước, cho sự bình yên của giang sơn dưới ánh trăng thu – biểu tượng của sự tĩnh lặng nhưng cũng dễ gợi nỗi buồn.
2. Không gian và thời gian gợi cảm
Cảnh vật mở đầu bằng hình ảnh mai vàng rụng đầy sân đình – vừa đẹp vừa gợi sự tàn phai, báo hiệu mùa thu và nỗi buồn ly biệt.
Phong linh và tiếng vó câu ngoài song gợi sự chuyển động nhẹ, như tiếng vọng từ quá khứ, làm nền cho giấc mộng trở về.
3. Thể thơ và ngôn ngữ
Bài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, ngắn gọn mà cô đọng, mỗi câu đều mang hình ảnh và cảm xúc sâu sắc. Ngôn ngữ Hán Việt trang nhã, cổ kính, dùng nhiều từ gợi hình như lạc lạc, mã đề, thu nguyệt, tạo nên âm hưởng trầm lắng và thi vị.
Bình luận tổng thể
“Quan Hoài” không chỉ là nỗi nhớ quê mà còn là nỗi bận lòng của người trí sĩ trước vận mệnh đất nước. Đông Thiên Triết đã khéo léo dùng hình ảnh thiên nhiên mùa thu để phản chiếu tâm trạng nội tâm, kết hợp giữa mộng và thực, giữa cá nhân và quốc gia. Đây là một bài thơ ngắn nhưng mang chiều sâu triết lý và cảm xúc, rất đáng để nghiền ngẫm.
Đây chốn nhân gian ngập ánh vàng Khi mùa báo hiếu đã dần sang Cho hoa nở rộ bao màu sắc Để bướm tung bay khắp nẻo đàng Nghĩ đến cố hương sầu chất ngất Thương về hiền mẫu nhớ mênh mang Bồi hồi lữ khách dừng chân bước Lắng tiếng chuông ngân phía đạo tràng
Nguyễn Kinh Bắc
(Bài Họa) Vu Lan Mùa Báo Hiếu
Thánh thót chuông ngân, Ánh Đạo Vàng,
Biết rằng Mùa Báo Hiếu gần sang.
Câu kinh hỷ xả hương đầy ngõ, Tiếng mỏ từ bi khói rợp đàng. Thương Mẹ sanh thành ơn cúc dục,
Nhớ Cha nuôi dưỡng nghĩa cưu mang. Ngựa hồ tê bắc sào nam điểu, @
Canh cánh lệ dài đẫm hạt tràng.
San Jose- 14/6/23 @-Hồ mã tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi.
Quang đãng chiều Thu dạo suối Tô,
Trông dường sắc thái cảnh hư vô.
Tình Xuyên sông Hán mây trên nước,
Phương Thảo trời Nam nhạn dưới hồ.
Ngưng cánh chim bằng tung vạn tuế,
Nhặt cành hoa thắm tặng tiên cô.
Gởi bao tâm sự ngàn lưu luyến,
Trong giấc mơ nồng ôm gái Tô.
Hôm nao gặp gỡ buổi chiều đông, Duyên thắm Ông Tơ cột chỉ hồng. Những lúc đan tay đi dạo phố, Đôi khi sánh bước băng qua đồng. Nhiêu người thấy ảnh ôm kỳ vọng, Lắm kẻ nhìn hình mộng viễn vông. Những lá thơ tình Huynh gửi Muội, Có còn cất giữ đó hay không?
Đầy trời én liệng tấu Long Nhan, Kíp đón Đông Quân dưới nắng vàng. @ Gió giục cành đào tuôn phúc lộc, Mây vần đôi liễn chúc bình an. Trống lân hò hét rền thôn xóm, Pháo tết nổ tung rộn phố làng. Hiên ngoại Cụ Đồ hoa bút thảo Phụng rồng leo chữ đón Xuân sang.
ĐỒNG SONG (Chuyến Về Quê Ghé Thăm Bạn Học Tên Thành)
Băng qua dải phố buổi chiều hồng. Định ghé thăm Thành những ước mong. Nhớ thuở tựu trường ngồi cùng lớp, Gợi thời tan hợc chạy chơi rong. Khi tao vượt biển mày còn đó, Lúc tớ về quê nó đã xong. Trời hỡi đâu ngờ thằng bạn quý, Ra đi vĩnh viễn một chiều đông.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.