Thơ Trào Phúng

Chốn Yên Hoa

(8 Bài Tự Trào) Bài 4
Chốn Yên Hoa: Tuổi 64

Sáu mươi bốn tuổi, chạy đường xa,
Nhờ thể thao nên thấy chửa già.
Sức cũng còn thừa, cày bốn vụ,
Lưng thì vẫn khỏe, cõng hai bà
.

Linh Đơn hỏng tẩm vì dư đạn,
Hải Cẩu không dùng bởi đủ ga.
Levitra, Viagra, thường bỏ túi,
Chỉ cần khi đến chốn yên hoa.Nhâm Thìn-/Mar/2012
Thơ Trào Phúng

Quằn Vai

8 Bài Tự Trào – Bài 3
Quằn Vai: Tuổi 62

Năm này sáu bó cộng thêm hai,
Sự nghiệp tiền tài chẳng sánh ai.
Lương lãnh ba xu, nghèo tới tấp,
Tình đun bốn lửa, khổ vươn dài.
Ngoại tôn nheo nhóc, trai và gái,
Nội đích đùm đề, gái lẫn trai.
Cảm tạ Trời cao đà rưới phúc,
Tặng đàn cháu nhỏ cõng quằn vai.Canh Dần/Apr/2010
Thơ Trào Phúng

Mạnh Như Thần

(8 Bài Tự Trào) – Bài 2
Mạnh Như Thần: Tuổi 60

Sáu mươi mã lực mạnh như thần,
Chạy bộ mười miles chửa mỏi chân.
C
ưỡi ngựa bung cương, phi bốn vó,
Vác cày qua núi, cuốc năm vần.
Cóc cần Hải Cẩu phù hơi sức,
Chẳng cậy Sâm Nhung bổ cốt gân.
Điện Bắc Cung Nam quần 
đến sáng,
Thế mà vẫn khỏe tợ trai tân.
Mậu Tý/Jan/2008
Thơ Trào Phúng

Tật Chẳng Chừa

8 Bài Tự Trào – Bài 1
Tật Chẳng Chừa: Tuổi 58

Tuổi trội ngũ tuần, tật chẳng chừa,
Phong lưu thơ rượu cứ cù cưa.
Leo đèo đổ dốc hơi không thiếu,
Cuốc bộ chạy đua sức có thừa.
Nếu phải đêm ba gieo sóng gió,
Hay là ngày bảy hứng mây mưa.
Cốt gân vẫn đủ tuôn năm vận,
Khí lực 
quá dư lúc cấy, bừa.

Bính Tuất/2006.
Trang Chủ

Thư Ngỏ

Thư ngỏ
Kính gửi các bạn: Tuyển tập thơ này bao gồm các tác phẩm tiêu biểu của nhiều nhà văn, nhà thơ trên khắp thế giới, được chúng tôi tuyển chọn và lưu trữ trên trang Blog này.
Kính thưa các bạn, mục đích của chúng tôi là bảo tồn văn hóa của Việt Nam và Trung Hoa, hầu tránh khỏi sự mai một trong tương lai, đặc biệt là con cháu chúng ta, là hậu duệ, là rường cột của một đất nước VN hùng cường.
Do đó, chúng tôi rất hân hạnh được đón nhận tất cả những áng văn, thơ, qua các tác phẩm văn học tiêu biểu của các bạn.
Kính chúc tất cả quý vị vạn sự tốt đẹp nhất.
Trang Chủ: Đông Thiên Triết
公開信
親愛的朋友們:這本詩集收錄了來自世界各地眾多作家和詩人的代表作品,我們精心挑選並珍藏於此部落格。
親愛的朋友們,我們的目標是傳承越南文化和中華文化,以防止我們的文化在未來失傳,尤其是為了我們的子孫後代,他們將是越南民族強大支柱的一部分。
因此,我們非常歡迎各位讀者投稿,分享你們的文學、詩歌和其他領域的代表作品。
祝大家一切順利。
主編:東天哲。
Lưu Thơ Phổ Nhạc

Còn Nhớ Nhau Hoài

Còn Nhớ Nhau Hoài
Sáng Tác: Đông Thiên Triết

Còn Nhớ Nhau Hoài
Sáng Tác: Đông Thiên Triết

(nữ) Còn nhớ không anh
Trời vào thu chớm nở mận đào
Trời hôm qua gió lạnh mưa rào
Bao ngày chờ nhau tưởng như muôn thuở

(nam) Vườn hoa cau hôm qua nở rộ
Bông hoa cau thơm tho dịu ngọt
len lén chen vào bờ vai em thon nhỏ
Bước sông hồ anh hằng nhớ hương tho.

(nữ) Còn nhớ không anh
Vườn Tao Đàn hôm nào hai đứa
Mình hẹn nhau dưới cội mai già

(nam) Ngọn gió đùa tóc thề hương hoa bưởi
Sợi nắng ươm hồng hôn bờ môi đỏ mọng
Em thẹn thùng cười duyên
nên đôi má có lúm hai đồng tiền

(nữ) Còn nhớ không anh, Còn nhớ không em
Lần đầu tiên mình gặp nhau trên phố
Bốn mắt mới nhìn mà Tình đôi tim đã trao 

(nam) Trên Phây Bút tâm tình cô em gái tỏ
Anh thả Tim vào làm xao xuyến người ta
Rồi từ đó hai phương trời xa lạ
Gom lại một nhà, nay thành một cặp thiên nga

(Song ca)
À à…ới…  thiên nhiên ơi… dù có Tây Thi hay Chiêu Quân sống lại,
cũng không sánh bằng người em gái tôi yêu sắc hoa tuyệt trần

Vui Bút Xướng Họa

VBXH-Trăng Treo & Đèn Trăng

(Bài Xướng)
Trăng Treo
Một mảnh trăng vàng mới được treo,
Đêm khuya chiếu rọi dưới chân đèo.
Quanh co mấy lượt, sao Trời đếm,
Khúc khuỷu bao lần, bóng Nguyệt theo.
Ngửa mặt trông lên, mây bảng lảng,
Quay đầu ngó lại, núi cheo leo.
Ánh dương vừa rạng, xua màn tối,
Lại thấy yêu hơn dẫu cảnh nghèo.
Thiện Minh
VN Cần Thơ -23-9-2012
(Bài Họa)
Đèn Trăng
Đèn trăng ai đó mới vừa treo ?
Rọi khắp trần gian, rực núi đèo.
Hứng cảnh, gió vờn mây cuộn quấn,
Say tình, mây cuộn gió vờn theo.
Đường qua bên ấy con oanh hót,
Ngõ đến nhà nàng bông giấy leo.
Nhớ bậu, nhờ Hằng Nga dẫn lối,
Ghé thăm, nhưng ngại phận anh nghèo.
Sep/25/2012.
Trang X.H Trường Thiên

Bài Xướng : Thu Ẩm

Bài Xướng (Song Vĩ Ngâm)
Liên Hoàn Thập Tam Khúc
THU ẨM
1.
Chiều thu xao xác lá vàng bay
Độc ẩm tiêu sầu dưới bóng cây
Gió thoảng lao xao bờ liễu rũ
Đàn ngân réo rắt khúc mơ say
Bâng khuâng dõi ngóng trời quê mẹ
Ngơ ngẩn mơ mòng bóng dáng ai
Chén cạn nhưng sầu sao chẳng cạn
Biết ai tâm sự mối tình hoài
Bạch Loan
———————————–
2.
Biết ai tâm sự mối tình hoài
Thu đến bao lần lá úa phai
Cúc tửu lưng bầu ngâm “túy ngọa”
Quỳnh tương cạn chén đón heo may
Thơ sầu mấy vận hồn tê tái
Rượu đắng đôi chung dạ ngất ngây
Mây xám giăng giăng mờ cố quận
Trăng buồn trăng rụng xuống non Đoài
Viễn Khách
———————————–
3.
Trăng buồn trăng hởi nhớ thương ai
Cho dáng trăng mơ mãi trãi dài
Trên đỉnh thu phong chờ bóng úa
Dưới hồ xuân nguyệt gợi tình phai
Lung linh thổn thức hồn sơn nhủ
Lấp lánh ngậm ngùi khách viễn nhai
Nâng chén cạn rồi lòng chửa ấm
Tìm đâu non nước, lệ u hoài
Glc
———————————-
4.
U hoài một bóng chốn tha phương
Vó ngựa chiều nao biệt chiến trường
Bảo Kiếm lạnh lùng treo vách đá
Chiến y hờ hững ném bên đường
Trăng khuya hiu hắt hồn cô quạnh
Quê cũ xa mờ dạ vấn vương
Đâu đó não nùng con quốc gọi
Hay là tiếng nấc của quê hương ?!
Bạch Loan
(10/10/04)
———————————–
5.
Quê hương hai tiếng vọng đêm trường
Mấy độ Thu về kiếp viễn phương
Ngắm ánh trăng thanh sầu cố quốc
Nâng bầu rượu đắng tủi tha hương
Thanh gươm đã gãy nhìn rơi lệ
Yên ngựa đà rơi thấy đoạn trường
Sông núi còn đây mà nước mất
Trời già gây lắm cảnh tang thương
Viễn Khách
———————–
6.
Tang thương dâu bể đoạn can trường
Độc ẩm đêm Thu nhớ cố hương
Xao xác gió buồn lay rặng liễu
Mơ màng trăng sáng quyện hàng dương
Đèn tàn, khóe mắt rưng rưng lệ
Bấc lụn, ngoài hiên lất phất sương
Tâm sự ngổn ngang sầu khó giải
Tình quê nghĩa nước nặng đôi đường
Viễn Khách
———————————–
7.
Tình quê nghĩa nước nặng như nhau
Phương ấy vọng đầu dạ nhói đau
Khóm cúc ngoài hiên còn đượm sắc ?
Nhành tre sau ngỏ vẫn tươi màu ?
Tường rơm xóm vắng cha chờ đó
Mái lá thôn xa mẹ đợi đâu
Ải Bắc chim xa còn nhớ tổ
Gió thu buốt lạnh nỗi u sầu
12/10/2004
Glc
————————
8.
Gió thu buốt lạnh nỗi u sầu
Xót dạ ngoảnh nhìn cảnh bể dâu
Phố thị điêu tàn hoang bóng giặc
Mả xa thản thốt loạn chân cầu
Anh hùng mạt vận lìa biên ải
Dũng tướng cùng đường giục vó câu
Viễn xứ chập chùng muôn vạn nẻo
Dặm trường ly khách biết về đâu
Bạch Loan
(11/10/04)
———————————–
9.
Về đâu khi bóng ngả chiều tà
Lối cũ rêu mờ phủ cỏ hoa
Trước mặt đèo cao không lữ quán
Sau lưng biển rộng thấy đâu nhà
Đau lòng quân tử ngày vong quốc
Nát dạ thuyền quyên buổi biệt gia
Vạn dặm quan san mờ mịt khói
Trời già cay nghiệt, hận đời ta
Viễn Khách
—————————-
10.
Đời ta phiêu bạt kiếp không nhà
Xóm cũ làng xưa diệu vợi xa
Đêm vắng não nùng thay tiếng quốc
Trăng khuya thê thảm bấy canh gà
Non sông thống khổ hờn cây cỏ
Đất nước điêu linh hận lá hoa
Tổ quốc vang vang lời réo gọi
Quằn vai nặng trĩu gánh sơn hà
Viễn Khách
———————————–
11.
Sơn hà đất nước nhắn tha hương
mong mỏi người về nhớ tiếc thương
nhảy múa đêm trăng vang khúc hát
vũ ca rằm nguyệt trổi đàn tương
năm tàn cách biệt người mong nhớ
tháng lụn xa rời  kẻ vấn vương
Đất mẹ đợi đàn con viễn xứ
quay về xây lại cảnh thê lương
Nguyen22
————————
12.
Thê lương nỗi nhớ cảnh non nhà
Nam Việt sầu mong kẻ viễn xa
cẩm tú sơn hà bao tinh túy
đan thanh vân thủy mấy phong sa
giang sơn tình luyến còn ngây ngất
non nước mộng vơi vẫn đậm đà
tuổi loạn ôm trời suy ảo tưởng
tình xưa nghĩa cũ nghĩ vong gia
Nguyen22
——————————–
13.
Gia vong quốc biến bận lòng trai
Viễn xứ một mình ngắm lá bay
Nốc chén rượu tàn hồn rã rượi
Hớp chung trà nguội dạ chua cay
Bên trời thấp thoáng chòm mây bạc
Trước mặt mênh mông sóng nước đầy
Xao xác lạnh lùng cơn gió thổi
Biết ai tâm sự mối tình hoài
Bạch Loan
(13/10/04)
Vui Bút Xướng Họa

VBXH-ĐÔNG SẦU 

Bài Họa – ĐÔNG SẦU 
(Thập Tam Liên Khúc – Thủ Vĩ ngâm)
(1)
Thu tàn Đông đến tuyết reo bay,
Phơ phất bềnh bồng phủ trắng cây.
Nguyệt hạ trăng soi, bình dốc cạn,
Lầu trung nến lụn, rượu tràn say.
Quê hương biền biệt còn đâu đấy,
Tổ quốc dặm trùng biết hỏi ai ?
Đường vắng sương mù, hơi buốt lạnh,
Màn đêm rủ xuống khối u hoài.

(2)

Màn đêm rủ xuống khối u hoài,
Gợi giấc kinh hoàng, khó nhạt phai.
Khói lửa lan tràn, muôn kẻ rủi!
Đạn bom cày nát, mấy người may?
Chinh nhân mỏi mệt còn nằm đó,
Chiến mã bơ phờ vẫn đứng đây.
Mờ ảo ánh trăng tàn, nến lụn,
Vừng đông ráng đỏ, xuất đông đoài.
(3)
Vừng đông ló dạng, đợi chờ ai?,
Búi lại mái đầu, nàng thở dài.
Tráng sĩ cầm gươm, lòng chẳng núng,
Hiền thê soi kiến, dạ không phai.
Vó câu mù mịt từ biên ải,
Lạc ngựa vang rền tận hải nhai.
Năm tháng khuê phòng, nàng khép kín,
Trâm lười, lược biếng, dạ quang hoài.
(4)
Quan hoài phu tướng ở tiền phương.
Nỗi thiếp vấn vương đến đoạn trường.
Chiến địa nổ tung, mù mịt cát,
Muôn quân hò hét, chật đen đường.
Ai đi ngang ải trao niềm nhớ,
Kẻ ở bên đồn gửi mối thương.
Thao thức đêm nằm, nghe tiếng dế,
Não nùng luyến ngọc, nhớ mùi hương.

(5)

Mùi hương má phấn quyện đêm trường,
Chiếc bóng đơn phòng ở hậu phương.
Biền biệt chinh phu nơi chiến địa,
Mỏi mòn cô phụ tận quê hương.
Dấn thân nam tử ra tiền tuyến,
Bắt lũ xâm loàn tại chiến trường.
Chưa thỏa tang bồng, chưa phỉ chí,
Tình nhà gác lại nỗi niềm thương.
(6)
Niềm thương, thao thức suốt canh trường,
Kết mối duyên hoài, ấm lửa hương.
Nhớ thuở sánh vai, hàng phượng vĩ,
Tiếc thời chung bóng, rặng thùy dương.
Hiu hiu gió thổi, mây che nắng,
Lơ lửng trăng treo, cỏ ngậm sương.
Bấc lụn, đàn ve kêu ấm ức,
Như buồn đưa tiễn khách lên đường.
(7)
Như buồn lưu luyến lúc xa nhau,
Cắt sợi chỉ hồng, ruột đớn đau.
Nắng hạ gió vờn, hoa nhạt sắc!,
Vườn xuân ai vẽ, lá phai màu?.
Tái tê thấy cảnh hoang liêu ấy,
Se sắt than trời cố quốc đâu?
Có biết lòng ta đang rối rắm,
Nhìn tranh luỵ ứa, dạ tuôn sầu.
(8)
Nhìn tranh luỵ ứa, dạ tuôn sầu,
Những ước không còn cảnh bể dâu.
Văng vẳng chân đồi, chuông miếu vọng,
Nhịp nhàng giữa điện, tiếng kinh cầu,
Tỳ bà dạo khúc theo con gió.
Tráng sĩ dừng chân cởi giáp câu.
Cột ngựa sau vườn, nâng chén cạn,
Thanh bình có được nối theo đâu!

(9)

Nối theo đến lúc ánh dương tà,
Điểm xuyết tàn cây, thắm lá hoa.
Bất chợt vó câu, gầm tiếng lạc,
Mới hay tráng khách, giã từ nhà.
Mang gươm mặc giáp, rời thê tử,
Gò ngựa lên đường, biệt bá gia.
Mong báo thù chung, đền tổ quốc,
Mới không hổ thẹn khí hùng ta.
(10)
Khí hùng tôi luyện, báo ơn nhà,
Cát bụi chiến trường khói mịt xa.
Mục tử xăng văng làn sáo trúc,
Cô thôn vắng bặt tiếng heo gà.
Bóng thù tràn đến, tàn nương sắn,
Gót giặc giẫm lên, nát cỏ hoa.
Trận chiến khơi mào đầy biển lửa,
Đao binh trùng điệp khắp sơn hà.
(11)
Sơn hà sóng gió, kiếp ly hương,
Thấy đấng anh hùng, dạ xót thương.
Tình đậm nghĩa sâu, chia lối mộng,
Chàng sầu thiếp lụy, cách sông tương.
Quyết vung kiếm thép, trừ ma đạo,
Dẫu đổ máu đào, diệt quỷ vương.
Cứu vạn sanh linh đang thống khổ,

Dám đâu hờ hững, lại vô lương.
(12)
Vô lương, gót giặc giẫm quê nhà,
Tiếng Hịch truyền đi vạn dặm xa.
Chiến sĩ lên đường, xương máu đổ,
Thê nhi tiễn biệt, lệ châu sa.
Giao tranh, lũ giặc đà thua thế,
Xuất trận, quân ta đã thắng đà.
Tiếng trống khải hoàn vang điệp khúc,
Thu binh trở gót, hội muôn gia.
(13)
Muôn gia tề tụ đón người trai !
Đứng dưới ngọn cờ gió lộng bay.
Nâng chén quan hà men ngọt lịm,
Nghiêng bầu cúc tửu vị nồng cay.
Nam thanh dũng cảm tài không thiếu,
Nữ tú kiên cường nghĩa luống đầy.
Quyết dựng cơ đồ hằng ấp ủ,
Màn đêm rủ xuống khối u hoài.
San Jose, Họa xong sau 2 ngày của bài Xướng: 15/Oct/2004
Ghi chú: Chiếu theo bài Xướng là Song Vĩ Ngâm, do đó bài Họa của tại hạ cũng làm theo thể “Song Vĩ Ngâm”, nghĩa là câu thứ 8 của bài thứ nhất, được lập lại ở câu chót, câu thứ 8 của bài thứ 13.
Các bạn cần đọc thêm bài Xướng, xin nhấn link này: Bài Xướng Thu Ẩm

Thơ Lục Bát

CÔ LÁI ĐÒ

Cô-Lái-Đò.jpg-áo-đỏ-300x218

CÔ LÁI ĐÒ


Cô lái đò 
ơi! cô lái đò!

Thuyn cô đưđón qua b bên đây.
Lúc sang sông, khách nh hoài,
Nh b môi mng, trâm cài tóc mây.
Ngn nhìn đôi mt thơ ngây,
Dn hn tôi nhp men say ngt người.
Hương tri sc nước thm tươi,
Khiến lòng chín cm mà mười nh thương.
Tương tư như đã m đường,
Ngm vào huyết qun, đêm thường mng mơ.
K t hôm y đến gi,
Bước chân qua bến, lên b đã yêu.
Tháng sau vào mt bui chiu,
Thn th ôm mt khi yêu trong lòng.
Nng n đnh quy sang sông,
Tng cho cô gái tm lòng ca tôi.
Đến khi v l ra ri,
Mi hay cô lái đã ri đò ngang.
B bàng, mng ước d dang,
Bi cô lái đã sang ngang vi vàng.
Ba mươi ngày, chui thi gian,
Như ba thế k nhói ran lòng này.
Đêm nay bên chén rượu cay,
Tôi ngi đếm git su đy trong tim.