Trang Thơ Hán Việt

Khúc Tiêu Tương

潚 湘 曲

斜陽閃閃滴絲涼,
枯葉徘徊落滿堂。
蝶弄西湖花展色,
蜂尋秋菊粉凝香。
嵿坡安子雲纏雪,
崖岸銀河燕繞霜。
一抱情癡千盌少,
吮愁悲竹曲潚湘。
唐 詩 東 天 哲
聖荷西 /甲辰年/元月25日2023年

Chuyển Ngữ:
TIÊU TƯƠNG KHÚC

Tà dương thiểm thiểm trích ti lương,
Khô diệp bồi hồi lạc mãn đường.
Điệp lộng tây hồ hoa triển sắc,
Phong tầm thu cúc phấn ngưng hương.
Lĩnh pha An Tử vân triền tuyết,
Nhai ngạn Ngân Hà yến nhiễu sương.
Nhất bão tình si thiên oản thiểu.
Duyện sầu bi trúc khúc tiêu tương.

Dịch Thơ:
Khúc Tiêu Tương

Nắng chiều từng sợi nhả tơ vương,
Lơ lửng lá khô rải khắp đường.
Bướm lượn hồ sen hoa trổ sắc,
Ong vờn nhụy cúc phấn xông hương.
Trên đồi Yên Tử mây đùa tuyết,
Dưới dải Ngân Hà én cợt sương.
Ôm khối tình si bên chén rượu, 
Ngậm sầu sáo trỗi Khúc Tiêu Tương.
San Jose-Giáp Thìn/Jan 25/2023

Nhấn vào link này để đọc lời Diễn Giải
https://dongthientriet.com/2025/03/dien-giai-y-nghia-ktt/
Thất Ngôn Bát Cú

Quảng Hàn Cung

 

QUẢNG HÀN CUNG
(Vịnh Trăng Đêm Rằm)

Quảng Hàn nàng chán, xuống tìm Ta,
Lấp ló ngoài hiên bóng nguyệt già.
Mây ở tháp ngà liền trải thảm,
Gió từ suối ngọc vội tuôn hoa.
Bướm vờn nhụy cúc khiêu tình dậy,
Ong gánh mật đào quyện khúc ca.
Đa tạ bạn hiền mây bướm gió,
Trợ nguồn hưng phấn tối đêm qua.
San Jose – Sep 3/2024

Thơ Hán Ngữ

鑪 山

鑪山煙鎖浙江潮,
未到平生恨不消。
到得本來無別事,
鑪山煙鎖浙江潮。

蘇 軾 

Lư sơn yên vũ, Chiết giang triều
Lư sơn yên vũ, Chiết giang[2] triều,
Vị chí thiên bàn hận bất tiêu.
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự,
Lư sơn yên vũ, Chiết giang triều.
Dịch nghĩa
Mưa khói ở Lư sơn, sóng ở Chiết giang,
Khi chưa đến thì lòng bứt rứt khôn nguôi nhiều bề.
Khi đến rồi thì cũng không có gì khác biệt,
Chỉ là mưa khói ở Lư sơn, sóng ở Chiết giang.
Bài thơ ý nói khi chưa đến Lư sơn, Chiết giang thì mong mỏi nhưng khi đến rồi thì lại sẽ thấy những thắng cảnh đó trở nên bình thường. Con người sau khi có được một thứ gì đó sẽ lại thấy nó và những thứ tương tự trở nên tầm thường. Nhiều tài liệu Phật giáo dùng bài thơ này để khai sáng về Thế giới cực lạc, và khuyên người ta không nên tìm cực lạc ở đâu, mà hãy rũ bỏ dục vọng ở những thứ xa vời, và cảm nhận niềm vui từ những gì đang có ở quanh mình.
Một số sách ở Việt Nam chép bài thơ như sau:

廬山煙鎖浙江潮,
未到平生恨不消。
到得本來無別事,
廬山煙鎖浙江潮。

 sơn yên toả, Chiết giang triều,
Vị đáo bình sinh hận bất tiêu.
Đáo đắc bản lai vô biệt sự,
sơn yên toả, Chiết giang triều.

Thơ Hán Ngữ

惠 能 (六祖詩 )

    菩提本無樹。
明鏡亦非臺
本來無一物
        何處有 (匿) 塵埃

惠 能

Huệ Năng (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638713), hay Lục Tổ Huệ Năng, là một vị Thiền sư vĩ đại trong lịch sử Thiền Tông Trung Hoa. Sư kế tiếp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, trở thành vị Tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Quốc.

Trước Huệ Năng, Thiền còn mang nặng ảnh hưởng Ấn Độ, nhưng đến đời Sư, Thiền bắt đầu có những đặc điểm riêng của Trung Quốc. Vì vậy mà có người cho rằng sư mới thật sự là người Tổ khai sáng dòng Thiền tại đây. Huệ Năng không chính thức truyền y bát cho ai, nên sau đó không còn ai chính thức là truyền nhân. Tuy nhiên sư có nhiều học trò xuất sắc. Môn đệ chính là Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng là hai vị Thiền sư dẫn đầu hầu như toàn bộ các dòng Thiền về sau.

Sư được coi là người sáng lập Thiền Đốn Ngộ (Thiền Nam Tông) – với chủ trương đạt giác ngộ trực tiếp, nhanh chóng. Sư là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là “Kinh“, một danh từ thường chỉ được dùng chỉ những lời nói, bài dạy của chính Phật Thích-ca, đó là Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh, một tác phẩm với ý nghĩa rất sâu xa về thiền. Cũng nhờ Pháp bảo đàn kinh mà người ta biết được ít nhiều về Huệ Năng.

Đường Thi TQ

七步詩 Thất Bộ Thi: Tào Thực

Sự việc và bài thơ này đầu tiên được thấy chép trong Thế thuyết tân ngữ. Tào Phi từng ra lệnh cho Tào Thực trong bảy bước phải làm một bài thơ với chủ đề anh em, không xong thì sẽ chém đầu. Tào Thực bước đi bảy bước và làm bài thơ này. Phi nghe xong, có ý thẹn liền tha tội chết cho Thực. Tào Thực mượn hình ảnh dùng cành đậu để nấu hột đậu để ám chỉ việc anh em tương tàn.

七步詩 
煮豆持作羹,
漉豉以為汁,
萁在釜下然。
豆在釜中泣,
本自同根生,
相煎何太急。

Thất bộ thi

Chử đậu trì tác canh,
Lộc thị dĩ vi trấp,
Cơ tại phủ há nhiên.
Đậu tại phủ trung khấp,
Bản tự đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp.

Dịch nghĩa

Đun đậu nấu làm canh,
Lọc đậu để lấy nước.
Cành đậu đốt ở dưới nồi,
Hạt đậu ở trong nồi khóc.
Vốn từ một gốc sinh ra,
Sao lại đốt nhau khốc liệt như vậy?

Bài thơ này còn có một dị bản bốn câu được lưu truyền, chép trong tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung như sau:

煮豆燃豆萁,
豆在釜中泣。
本是同根生,
相煎何太急?

Chử đậu nhiên đậu ky,
Đậu tại phủ trung khấp.
Bản thị đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp?

Nấu đậu đun củi đậu,
Đậu ở trong nồi khóc.
Sinh ra từ một gốc,
Sao nỡ đốt nhau mau?

Thất Ngôn Bát Cú

Nhạn Chiều

Một hôm, vô tình tôi nhìn lên bầu trời vào buổi chiều se lạnh bởi con gió hiu hiu,  bỗng dưng nhìn thấy một bầy nhạn bay bay lơ lửng trên bầu trời, không biết bay đến tận chân trời nào đó, khiến mình chạnh nhớ đến bóng người Mẹ Hiền, tần tảo sớm hôm để nuôi đàn con thơ dại. Cảm xúc từ trong ký ức bởi những hình ảnh khó quên đó và cũng nhân ngày Mother’s day hôm nay, hứng bút có làm bài mọn này, để tưởng nhớ công sanh thành dưỡng dục của Mẹ Cha, nên post lên đây chia sẻ cùng các bạn “Yêu Mẹ, Cha, Yêu Thơ” cùng nhàn lãm.

Nhn Chiu

Nhìn cánh nhn chiu đuổi áng mây,
Gợi hình từ mẫu dưới thôn Đoài.
Hai sương lặn lội, thân Cò yếu,
Một nắng dãi dầu, dáng Mẹ gy.
Tháng đợi chim non mau đ cánh,
Ngày
mong con tr vng đôi vai.
Bán lưng thắt bụng, ôm kỳ vọng, 
Mong thấy hộc hồng cao vút bay. 
ĐôngThiênTriết/ July 6/2020

Tùy Bút

Chiều Thu Dạo Suối Tô Châu

gái tô châu 2

Kính chào các bạn,

Dạo này vì lười sáng tác thơ thấy cũng đã lâu, mãi đến hôm nay cảm thấy tinh thần sảng khoái do bầu trời chớm vào Thu, với lại đọc thấy Mạng thấy có bài viết với chủ đề: Gái Đẹp Tô Châu, kèm theo hình ảnh của các nàng kiều nữ Tô Châu trông thật diễm lệ của tác giả Tiến Đạt, khiến mình hứng bút làm bài thơ dưới đây, xin chia sẻ cùng các bạn yêu thơ, luôn thể trích bài Tùy Bút về Tô Châu của tác giả trên, gởi đến quý bạn nhàn lãm. Chúc tất cả một cuối tuần an vui, hạnh phúc.

Tạp Ghi:

Người Trung Quốc có câu truyền miệng là mong ước rằng: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, của đời người thì phải như vầy:  
SINH thì ước được sinh ra tnh Tô Châu (vùng đt sn sinh ra nhiu gái đp).
SNG thì sng tnh Hàng Châu (nơi đó có phong cnh đp),
ĂN ung thì tnh Qung Châu (có m thc ngon, l ming), và khi
CHT thì được chết tnh Liu Châu (nơi có nhiu loi g tt đ làm quan tài).

Đàn ông trai tráng Trung Quốc nói riêng và nói chung cũng có nhiều người ngoại quốc “mê” tìm vợ ở tỉnh Tô Châu là chuyện tất yếu.

Hiện nay, chính quyền Tô Châu hạn chế tối đa việc xây dựng các công trình lớn trong nội thị, tạo sự khác biệt so với những thành phố sầm uất khác như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Trùng Khánh… nên Tô Châu ngày nay vẫn giữ được nét cổ kính độc đáo, nhịp sống yên ả và thi vị, thích hợp đối với những tâm hồn hoài cổ với các chùa chiền, vườn nhà cổ, kênh rạch, liễu rủ, cây ngô đồng trồng khắp phố bốn mùa thay lá, đặc biệt vào mùa thu màu lá vàng rực huyền ảo lạ thường. 

Chúng tôi đến Tô Châu trong những ngày chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Trong cái lạnh 50C, tôi khoác áo ấm bước xuống phố, len vào đám đông đang xuôi ngược. Mùa đông, thời điểm bùng nổ bức tranh đa sắc các loại trang phục áo ấm, áo khoác, khăn choàng cổ, mũ len, giày cổ cao, găng tay… của những người đẹp Tô Châu nổi tiếng làn da trắng mịn, thân hình thon thả và nhiều cô sở hữu đôi chân dài kiêu hãnh và cuốn hút.

Nổi bật nhất phải kể đến các thiếu nữ thế hệ 8x ăn mặc trẻ trung,  đúng mốt, khoác tay người yêu, bạn bè đi lại trên đường phố. Họ cùng nhau đi mua sắm, ăn uống, tham quan, cười nói tíu tít, “ăn sóng nói gió”, toát lên vẻ lạc quan… Khi băng qua cầu nối dòng kênh đào với hai con đường lớn, tôi bắt gặp đôi mắt buồn u uẩn của cô gái trẻ đẹp đang đứng một mình bên gốc liễu xanh rủ xuống dòng kênh. Hình như tôi đã gặp cô gái này ở đâu đó thì phải, đôi mắt kỳ ảo ấy không thể làm người đối diện nhanh quên được. Cô gái cũng nhìn thấy tôi, một thoáng nhíu mày nhẹ rồi quay đi tiếp tục nhìn xuống dòng kênh xanh.

Tại sao mùa đông giá lạnh, cô gái trẻ lại đứng một mình bên dòng kênh tựa bức tranh thủy mạc liêu trai đến thế? Trong thời gian lưu lại Tô Châu, tôi cố lục tung trí nhớ truy tìm “gốc gác” cô gái Trung Hoa nhưng cuối cùng đành chấp nhận ý nghĩ đó là một người hoàn toàn xa lạ. Cho đến khi vừa đặt chân trở lại Sài Gòn, tôi mới nhớ cô gái đó đã ngồi hàng ghế phía sau chúng tôi, cạnh cửa sổ trên chuyến bay từ TP.HCM – Thượng Hải, sau đó  đoàn chúng tôi xuôi về Tô Châu, chắc chắn cô gái cũng song hành cùng cung đường, và có thể đó là một trong những người đẹp Tô Châu xa xứ lâu ngày trở lại cố hương chăng? 

Khi “luận” về gái đẹp Tô Châu, anh chàng Dương Tử Huy (công tác tại  một công ty du lịch lớn tại Thượng Hải) nói vui rằng du khách khắp nơi tìm về Tô Châu chỉ để nhìn ngắm các người đẹp như danh truyền thì có thể có một chút tiếc nuối vì hiện nay gái đẹp vùng này chia thành bốn cấp bậc. Bậc “nhất” đã theo chồng định cư tại các quốc gia phồn thịnh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu… Bậc “hai” theo chồng đến với Hồng Kông, Đài Loan, Macau… Bậc “ba” cũng đã nhanh chân yên bề gia thất tại các thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu… và bậc “tư” còn lưu lại quê hương?!

Thật ra, điều anh chàng Dương Tử Huy nói nếu hoàn toàn đúng cũng là chuyện thường tình, vì không chỉ gái đẹp miền Tô Châu mà tất cả người đẹp thế gian từ cổ chí kim đều có nhu cầu chính đáng cần bến đỗ bình an.

Khi chúng tôi đi thuyền trên kênh Tô Châu, anh chàng hướng dẫn viên trổ tài thuyết minh vẻ đẹp khung cảnh thiên nhiên, trong đó có nhắc đến những chuyến du hành của vua Càn Long, nhưng tuyệt nhiên không đá động  đến hình ảnh bốn mươi trinh nữ dùng sức kéo cho thuyền vua chạy. (Tương truyền, một trong những thú tiêu khiển nặng tính phong kiến của vua Càn Long là thú vui đi thuyền ngắm mây nước tang bồng, trong đó, suốt đoạn kênh băng qua Tô Châu, thuyền chạy bằng sức kéo của bốn mươi trinh nữ mười tám tuổi xinh đẹp chia thành hai nhóm đứng hai bên bờ dùng lụa kéo thuyền. Không ít những cô gái xinh đẹp đã kiệt sức và chết vì lao lực…). Có thể anh hướng dẫn viên không muốn du khách “ngậm ngùi” vì thú vui lạ thường của bậc vua chúa ngày xưa, hoặc anh ta thiếu kiến thức. Tôi không tin người Trung Quốc, đặc biệt đội ngũ hướng dẫn viên không thuộc lịch sử nước họ!

Tiến Đt

Trang Thơ Hán Việt

Cô Lái Đò

Cô-Lái-Đò.jpg-áo-đỏ-300x218

CÔ LÁI ĐÒ


Cô lái đò
ơi! cô lái đò!
Thuyn cô đưa đón qua b bên đây.
Lúc sang sông, khách nh hoài,
Nh b môi mng, trâm cài tóc mây.
Ngn nhìn đôi mt thơ ngây,
Dn hn tôi nhp men say ngt người.
Hương tri sc nước thm tươi,
Khiến lòng chín cm mà mười nh thương.
Tương tư như đã m đường,
Ngm vào huyết qun, đêm thường mng mơ.
K t hôm y đến gi,
Bước chân qua bến, lên b đã yêu.
Tháng sau vào mt bui chiu,
Thn th ôm mt khi yêu trong lòng.
Nng n đnh quy sang sông,
Tng cho cô gái tm lòng ca tôi.
Đến khi v l ra ri,
Mi hay cô lái đã ri đò ngang.
B bàng, mng ước d dang,
Bi cô lái đã sang ngang vi vàng.
Ba mươi ngày, chui thi gian,
Như ba thế k nhói ran lòng này.
Đêm nay bên chén rượu cay,
Tôi ngi đếm git su đy trong tim.
ĐôngThiênTriết
 

Tùy Bút

PHẬT HAY ĐỐNG PHÂN BÒ ?

todongpha_1336554688

Tác Giả:  Trúc Lâm Hàn Sĩ
PHẬT HAY ĐỐNG PHÂN BÒ ?
Dưới đây là mẫu truyện sưu tầm về giai thoại rất lý thú, giữa lão Tô (1) và lão Phật Ấn (2)
(1) Lão Tô: Tô Đông Pha, (2) Phật Ấn: Thiền sư Liễu Nguyên
Cốt truyện được lồng trong tiêu đề: Tâm Phật Kiến Phật, Tâm Ma Kiến Ma, như sau:
Một hôm, Tô Đông Pha đến Thiền Viện chơi với Thiền sư Phật Ấn suốt cả buổi. Hai người đối ẩm, đàm đạo về Pháp Thiền rất tâm đắc. Đến lúc sắp ra về, bất chợt Tô Đông Pha hỏi lão Phật Ấn:
-Ngài trông thấy dung mạo tôi như thế nào?
Lão Phật Ấn nhìn lão Tô rồi đáp:
– À, thì trông ông với vẻ hiền từ, nghiêm nghị, đạo mạo, giống y như Phật.
Tô Đông Pha được khen giống Phật thì vô cùng đắc chí.
Kế, lão Phật Ấn hỏi lại Tô Đông Pha:
-Thế, ông thấy dung mạo tôi ra sao?
Tô Đông Pha thấy Phật Ấn người thì mập mạp, tròn ú, lại mặc áo nâu sồng, trông rất buồn cười, bèn đáp ngay:
– Theo mắt nhìn của tôi thì trông ông giống y như một đống phân bò vậy!
Lão Phật Ấn nghe qua thì chỉ mỉm cười và gật gật đầu mà không tỏ vẻ hờn dỗi chút nào, mà miệng thì luôn niệm: “A Di Đà Phật”
Còn về lão Tô, lúc này trong bụng nghĩ rằng hôm nay mình đã thắng lão Phật Ấn một keo lớn, cho nên, trong lòng rất đổi vui sướng và khi về đến nhà thì hớn hở khoe với cô em gái, tức là Tô tiểu muội:
– Này, muội muội!, xưa giờ, Huynh bị lão Phật Ấn cho Huynh đo ván dài dài, không lần nào Huynh đấu lại lão ta. Nhưng không hiểu hôm nay lão ăn nhằm ớt hiểm cay hay sao mà lão không thốt nên lời nào, khi bị Huynh “mắng” lão là “đống phân bò”
Nói rồi bèn thuật lại đầu đuôi câu chuyện đối đáp vừa qua giữa 2 người cho cô tiểu muội nghe.
(Riêng, nói về Tô tiểu muội, thì bản chất cô vốn thông minh, thiên tư xuất chúng, cầm, kỳ, thi, họa chẳng ai sánh bằng). Khi cô nghe ca ca “ông anh” mình kể xong câu chuyện thì Tô tiểu muội liền nói:
– Nếu quả thật như vậy thì Huynh đã thua to cho lão Phật Ấn rồi!
Tô Đông Pha không chịu, tức quá liền hỏi lại:
– Làm sao mà Huynh thua cho lão? Nếu thua, sao ông ấy không đáp trả lại lời nào?
–Tô tiểu muội chậm rãi phân tích:
–Này Huynh! có phải Đức Phật là do chính mắt lão Phật Ấn trông thấy, còn “đống phân bò” là do chính mắt Huynh nhìn thấy, có phải vậy không? nếu quả thật là như vậy thì chính Huynh là kẻ đã thua to cho lão Phật Ấn mất rồi ?
Để tiểu muội giải thích cho Huynh nghe nhé: “bởi vì ở trong cái TÂM của lão Phật Ấn là cái “TÂM của PHẬT” cho nên lão nhìn thấy Huynh mà lão nghĩ ra đó là Phật, còn cái TÂM của Huynh chẳng qua nó chỉ là một “Đống PHÂN BÒ” cho nên Huynh nhìn thấy lão Phật Ấn giống như một “đống phân bò”.
Vậy, không phải lão Phật Ấn đã thắng Huynh rồi hay sao ? và Huynh là kẻ đã thua to rồi Huynh ơi ! còn lời lẽ gì để bào chữa nữa ?
Sau khi Tô Đông Pha nghe tiểu muội phân tích, ngẫm nghĩ hồi lâu và chừng như đã thấm ý rồi bẽn lẽn bỏ đi, trông dáng điệu thểu não như chiếc giẻ rách, mặt mày bí sị vì biết rằng mình đã bị lão Phật Ấn gián tiếp cho đo sát ván thêm một keo nữa, nghĩ bụng thật là nhục nhã.
Lời Bàn: Một Bài Học Về Đạo Lý
“TÂM PHẬT KIẾN PHẬT. TÂM MA KIẾN MA”
Thiển nghĩ giai thoại trên đây, tác giả mượn tên hai nhân vật Tô Đông Pha và lão Phật Ấn để đóng vai trò chánh trong cốt truyện và mượn bối cảnh hai bên đối thọai nhau (“gián tiếp” phân cao thấp) làm chủ đề, hẳn không ngoài mục đích muốn châm biếm cái “căn bệnh” trầm kha không thuốc chữa mà từ xưa nay, trong mọi tầng lớp xã hội đều vướng phải, đó chính là cái “căn bệnh tham vọng, vị kỷ, tự cao, tự đại” mà phàm nhân [凡人] thường mắc phải, nguyên nhân cũng chỉ vì hai chữ “Tôi, Ta,” mà thiên hạ “trân quý”, tâng đội nó lên trên vị trí cao nhất.
Tựu chung hai chữ “Tôi, Ta”, to tổ bố mà thông thường người đời thích tô son trát phấn, để mang ở trước lồng ngực hay đội nó trên đỉnh đầu mà vênh mặt với mọi người.
Như trên đã dẫn, khi lão Phật Ấn đánh giá hình tướng của lão Tô “trông giống như vị Phật”, vừa nghe qua thì trong lòng lão Tô rất đắc ý và tỏ vẻ vui sướng khôn siết, là vì sao? là vì lão Tô đã được “tâng bốc” lên đến tận mây xanh, đó chẳng phải là do cái “Tâm Dục” của con người chất chứa bên trong cái “Tôi, Ta” quá lớn lao hay sao ?

Theo chủ thuyết nhà Phật, cái Tâm Dục “Tôi, Ta”, trong đó nó bao gồm “vị kỷ, tự cao, tự đại, tự ty, tự mãn”, đấy là những ham muốn, tiềm ẩn bên trong Lục Dục [ (6 thứ ham muốn) trên đời, hay nói cho rõ hơn, đó chính là Lục Căn, tức là : Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân, Ý. [ 眼、耳、鼻、舌、身、意]  “Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý” đó là sáu chất căn bản (lục căn) nó cũng liên đới cùng Lục Trần “六 塵” : (sáu chất bụi trần) gồm có : Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, [色、聲、香、味、觸、法]  được bình giảng ra là :
1/-Sắc: là màu sắc, hình dáng.
2/-Thanh: là âm thanh phát ra.
3/-Hương: là mùi thơm phảng phất.
4/-Vị: là chất vị do lưỡi nếm được.
5/-Xúc: là cảm giác như cứng, mềm, nóng, lạnh, êm ái, sung sướng.
6/-Pháp: là những hình ảnh, màu sắc, hương vị được lưu lại từ 5 trần ở trên.

Còn bàn rộng ra ý nghĩa của từ “Sở Dục” mà lão Tô mắc phải, theo thuyết nhà Phật thì đó chính là cái “Sở Dục” thứ 2 nằm trong Lục Trần là Thanh Dục [聲欲].

Thanh Dục
 tức là thích nghe tiếng ca, lời hát, êm tai, du dương quyến rũ, lời tâng bốc khen tặng, nó tiềm ẩn ở bên trong Bát Độc Phong [八毒風], Bát Độc Phong có nghĩa là (tám luồng gió độc) đó là: Lợi, Suy, Hủy, Dự, Xưng, Cơ, Khổ, Lạc [利, 衰, 譭, 譽, 稱, 譏, 苦, 樂] mà thế nhân thường vướng vào ở cái Sở Dục thứ 3 và thứ 4, nằm trong tám luồng gió độc rất ư là tai hại, đó là Dự [譽] và Xưng [稱].

Dự và Xưng được bàn rộng ra như sau:

Dự
 [譽] có nghĩa là Thích được sự khen tặng, tâng bốc “một cách gián tiếp”

Xưng [稱] có nghĩa là thích được ca tụng, tán thưởng. “một cách trực tiếp”.

Dẫn chứng hình ãnh bên trên, cho ta thấy lão Tô được lão Phật Ấn thổi phồng, cho nên lão rất đổi vui sướng vô cùng. Tuy nhiên, nếu nói lão Phật Ấn “thổi phồng” là quá đáng, vì đối với một nhà sư tu hành có đạo hạnh uyên thâm như lão Phật Ấn thì làm gì có chuyện Ngài bốc phét hay đánh bóng cho một cá nhân nào hầu để trục lợi riêng tư cho cá nhân mình, đó chẳng qua bởi cái Tâm của Ngài là: Tâm của Phật, cho nên Ngài nhìn ai, nhìn đâu thì quang cảnh trước mắt đều là Phật, mà theo thuyết nhà Phật thì “tất cả chúng sinh đều là Phật”, do đó Phật giáo có câu: “Tâm Phật Kiến Phật” [心佛見佛] là vậy.
Còn xét về cái “tâm” của lão Tô, bên trong cái “tâm” ấy hằng chất chứa cả một “đống phân bò”, vì vậy, khi lão nhìn ai, nhìn đâu cũng thấy nơi đó toàn là “đống phân bò”, hôi thối và mọi người, mọi vật trước mắt lão đều là kẻ gian, kẻ xấu, là ma, là quỷ, cho nên trong thuyết nhà Phật có câu nối tiếp câu đầu ở đoạn trên là: “Tâm Ma Kiến Ma” [心魔見魔]  là như vậy.
**** “Tâm Phật Kiến Phật” [心佛見佛]
**** “Tâm Ma Kiến Ma” [心魔見魔]
Trúc Lâm Hàn Sĩ Hàn Sĩ
Tháng 9/24/2012