Thơ Hán Ngữ

Nhất Thời Hồi Ức. HV

一  時  回  憶

秋風提憶夕陽光,
愛汝步行疼路傍。
亮面搖湖弄月慢,
閃坡落霧掛霜漫。
玄雲楊柳宜煙景,
綠岸海棠格草莊。
長得十分眞美貌,
同窗可愛我紅顏。

聖荷西 -4月17日/甲辰年-2024

唐 詩 東天哲

(Chuyển Ngữ) 
Nhất Thời Hồi Ức

Thu phong đề ức tịch dương quang
Ái nhữ bộ hành, đông lộ bàng.
Lượng diện diêu hồ lộng nguyệt mạn,
Thiểm pha lạc vụ quải sương man.
Huyền vân dương liễu nghi yên cảnh,
Lục ngạn hải đường cách thảo trang.
Trưởng đắc thập phân chân mỹ mạo,
Đồng song khả ái ngã hồng nhan.

(Dịch Thơ)
Gợi Nhớ Một Thuở

Gió thu gợi nhớ nắng chiều vương,
Yêu dáng đi, yêu cả nẻo đường.
Lóng lánh gương hồ vờn bóng nguyệt,
Long lanh mặt nước tỏa hơi sương.
Tóc huyền hương thảo nhành dương liễu,
Mắt biếc sắc hoa cánh hải đường.
Nét đẹp mỹ miều nhan sắc đó,
Bóng hồng cùng lớp người tôi thương.
San Jose- April 17/2024
Thơ Hán Ngữ

遙 夜 無 睡

朦 朧 无 睡 滿 更 長

眼 累 幽 懷 望 故 鄉。

吵 吵 門 前 風 雨 冷,

悠 悠 月 下 牡 丹 香。

霧 融 霜 結 葉 稜 角,

狗 吠 聲 嘩 廟 裏 堂。

觸 景 詩 提 而 想 棄,

擔 懮 君 閱 這 悲 傷。

Thơ Hán Ngữ

鑪 山

鑪山煙鎖浙江潮,
未到平生恨不消。
到得本來無別事,
鑪山煙鎖浙江潮。

蘇 軾 

Lư sơn yên vũ, Chiết giang triều
Lư sơn yên vũ, Chiết giang[2] triều,
Vị chí thiên bàn hận bất tiêu.
Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự,
Lư sơn yên vũ, Chiết giang triều.
Dịch nghĩa
Mưa khói ở Lư sơn, sóng ở Chiết giang,
Khi chưa đến thì lòng bứt rứt khôn nguôi nhiều bề.
Khi đến rồi thì cũng không có gì khác biệt,
Chỉ là mưa khói ở Lư sơn, sóng ở Chiết giang.
Bài thơ ý nói khi chưa đến Lư sơn, Chiết giang thì mong mỏi nhưng khi đến rồi thì lại sẽ thấy những thắng cảnh đó trở nên bình thường. Con người sau khi có được một thứ gì đó sẽ lại thấy nó và những thứ tương tự trở nên tầm thường. Nhiều tài liệu Phật giáo dùng bài thơ này để khai sáng về Thế giới cực lạc, và khuyên người ta không nên tìm cực lạc ở đâu, mà hãy rũ bỏ dục vọng ở những thứ xa vời, và cảm nhận niềm vui từ những gì đang có ở quanh mình.
Một số sách ở Việt Nam chép bài thơ như sau:

廬山煙鎖浙江潮,
未到平生恨不消。
到得本來無別事,
廬山煙鎖浙江潮。

 sơn yên toả, Chiết giang triều,
Vị đáo bình sinh hận bất tiêu.
Đáo đắc bản lai vô biệt sự,
sơn yên toả, Chiết giang triều.

Thơ Hán Ngữ

惠 能 (六祖詩 )

    菩提本無樹。
明鏡亦非臺
本來無一物
        何處有 (匿) 塵埃

惠 能

Huệ Năng (zh. huìnéng/ hui-neng 慧能, ja. enō) (638713), hay Lục Tổ Huệ Năng, là một vị Thiền sư vĩ đại trong lịch sử Thiền Tông Trung Hoa. Sư kế tiếp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, trở thành vị Tổ thứ 6 của Thiền Tông Trung Quốc.

Trước Huệ Năng, Thiền còn mang nặng ảnh hưởng Ấn Độ, nhưng đến đời Sư, Thiền bắt đầu có những đặc điểm riêng của Trung Quốc. Vì vậy mà có người cho rằng sư mới thật sự là người Tổ khai sáng dòng Thiền tại đây. Huệ Năng không chính thức truyền y bát cho ai, nên sau đó không còn ai chính thức là truyền nhân. Tuy nhiên sư có nhiều học trò xuất sắc. Môn đệ chính là Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng là hai vị Thiền sư dẫn đầu hầu như toàn bộ các dòng Thiền về sau.

Sư được coi là người sáng lập Thiền Đốn Ngộ (Thiền Nam Tông) – với chủ trương đạt giác ngộ trực tiếp, nhanh chóng. Sư là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là “Kinh“, một danh từ thường chỉ được dùng chỉ những lời nói, bài dạy của chính Phật Thích-ca, đó là Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh, một tác phẩm với ý nghĩa rất sâu xa về thiền. Cũng nhờ Pháp bảo đàn kinh mà người ta biết được ít nhiều về Huệ Năng.