Vui Bút Xướng Họa

VBXH-ĐÔNG SẦU 

Bài Họa – ĐÔNG SẦU 
(Thập Tam Liên Khúc – Thủ Vĩ ngâm)
(1)
Thu tàn Đông đến tuyết reo bay,
Phơ phất bềnh bồng phủ trắng cây.
Nguyệt hạ trăng soi, bình dốc cạn,
Lầu trung nến lụn, rượu tràn say.
Quê hương biền biệt còn đâu đấy,
Tổ quốc dặm trùng biết hỏi ai ?
Đường vắng sương mù, hơi buốt lạnh,
Màn đêm rủ xuống khối u hoài.

(2)

Màn đêm rủ xuống khối u hoài,
Gợi giấc kinh hoàng, khó nhạt phai.
Khói lửa lan tràn, muôn kẻ rủi!
Đạn bom cày nát, mấy người may?
Chinh nhân mỏi mệt còn nằm đó,
Chiến mã bơ phờ vẫn đứng đây.
Mờ ảo ánh trăng tàn, nến lụn,
Vừng đông ráng đỏ, xuất đông đoài.
(3)
Vừng đông ló dạng, đợi chờ ai?,
Búi lại mái đầu, nàng thở dài.
Tráng sĩ cầm gươm, lòng chẳng núng,
Hiền thê soi kiến, dạ không phai.
Vó câu mù mịt từ biên ải,
Lạc ngựa vang rền tận hải nhai.
Năm tháng khuê phòng, nàng khép kín,
Trâm lười, lược biếng, dạ quang hoài.
(4)
Quan hoài phu tướng ở tiền phương.
Nỗi thiếp vấn vương đến đoạn trường.
Chiến địa nổ tung, mù mịt cát,
Muôn quân hò hét, chật đen đường.
Ai đi ngang ải trao niềm nhớ,
Kẻ ở bên đồn gửi mối thương.
Thao thức đêm nằm, nghe tiếng dế,
Não nùng luyến ngọc, nhớ mùi hương.

(5)

Mùi hương má phấn quyện đêm trường,
Chiếc bóng đơn phòng ở hậu phương.
Biền biệt chinh phu nơi chiến địa,
Mỏi mòn cô phụ tận quê hương.
Dấn thân nam tử ra tiền tuyến,
Bắt lũ xâm loàn tại chiến trường.
Chưa thỏa tang bồng, chưa phỉ chí,
Tình nhà gác lại nỗi niềm thương.
(6)
Niềm thương, thao thức suốt canh trường,
Kết mối duyên hoài, ấm lửa hương.
Nhớ thuở sánh vai, hàng phượng vĩ,
Tiếc thời chung bóng, rặng thùy dương.
Hiu hiu gió thổi, mây che nắng,
Lơ lửng trăng treo, cỏ ngậm sương.
Bấc lụn, đàn ve kêu ấm ức,
Như buồn đưa tiễn khách lên đường.
(7)
Như buồn lưu luyến lúc xa nhau,
Cắt sợi chỉ hồng, ruột đớn đau.
Nắng hạ gió vờn, hoa nhạt sắc!,
Vườn xuân ai vẽ, lá phai màu?.
Tái tê thấy cảnh hoang liêu ấy,
Se sắt than trời cố quốc đâu?
Có biết lòng ta đang rối rắm,
Nhìn tranh luỵ ứa, dạ tuôn sầu.
(8)
Nhìn tranh luỵ ứa, dạ tuôn sầu,
Những ước không còn cảnh bể dâu.
Văng vẳng chân đồi, chuông miếu vọng,
Nhịp nhàng giữa điện, tiếng kinh cầu,
Tỳ bà dạo khúc theo con gió.
Tráng sĩ dừng chân cởi giáp câu.
Cột ngựa sau vườn, nâng chén cạn,
Thanh bình có được nối theo đâu!

(9)

Nối theo đến lúc ánh dương tà,
Điểm xuyết tàn cây, thắm lá hoa.
Bất chợt vó câu, gầm tiếng lạc,
Mới hay tráng khách, giã từ nhà.
Mang gươm mặc giáp, rời thê tử,
Gò ngựa lên đường, biệt bá gia.
Mong báo thù chung, đền tổ quốc,
Mới không hổ thẹn khí hùng ta.
(10)
Khí hùng tôi luyện, báo ơn nhà,
Cát bụi chiến trường khói mịt xa.
Mục tử xăng văng làn sáo trúc,
Cô thôn vắng bặt tiếng heo gà.
Bóng thù tràn đến, tàn nương sắn,
Gót giặc giẫm lên, nát cỏ hoa.
Trận chiến khơi mào đầy biển lửa,
Đao binh trùng điệp khắp sơn hà.
(11)
Sơn hà sóng gió, kiếp ly hương,
Thấy đấng anh hùng, dạ xót thương.
Tình đậm nghĩa sâu, chia lối mộng,
Chàng sầu thiếp lụy, cách sông tương.
Quyết vung kiếm thép, trừ ma đạo,
Dẫu đổ máu đào, diệt quỷ vương.
Cứu vạn sanh linh đang thống khổ,

Dám đâu hờ hững, lại vô lương.
(12)
Vô lương, gót giặc giẫm quê nhà,
Tiếng Hịch truyền đi vạn dặm xa.
Chiến sĩ lên đường, xương máu đổ,
Thê nhi tiễn biệt, lệ châu sa.
Giao tranh, lũ giặc đà thua thế,
Xuất trận, quân ta đã thắng đà.
Tiếng trống khải hoàn vang điệp khúc,
Thu binh trở gót, hội muôn gia.
(13)
Muôn gia tề tụ đón người trai !
Đứng dưới ngọn cờ gió lộng bay.
Nâng chén quan hà men ngọt lịm,
Nghiêng bầu cúc tửu vị nồng cay.
Nam thanh dũng cảm tài không thiếu,
Nữ tú kiên cường nghĩa luống đầy.
Quyết dựng cơ đồ hằng ấp ủ,
Màn đêm rủ xuống khối u hoài.
San Jose, Họa xong sau 2 ngày của bài Xướng: 15/Oct/2004
Ghi chú: Chiếu theo bài Xướng là Song Vĩ Ngâm, do đó bài Họa của tại hạ cũng làm theo thể “Song Vĩ Ngâm”, nghĩa là câu thứ 8 của bài thứ nhất, được lập lại ở câu chót, câu thứ 8 của bài thứ 13.
Các bạn cần đọc thêm bài Xướng, xin nhấn link này: Bài Xướng Thu Ẩm